Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Pháp Ngữ khác của HT Tịnh Không

NHẬN THỨC PHẬT GIÁO (Phần 2)

Chủ nhật - 16/06/2013 20:05
NHẬN THỨC PHẬT GIÁO

(Giáo dục hạnh phúc mỹ mãn)

(Phần 2)

 

Người giảng:   Lão Pháp sư Tịnh Không

Địa điểm:       Boston Úc Châu

Người niệm Phật tu Tịnh Độ thì đến chỗ này của chúng ta, người thích học tham thiền, nghe nói Phật Quang Sơn có mở lớp tọa thiền, thì họ đến nơi đó. Như vậy thì đúng. Người thích làm việc từ thiện, thì đến Hội Công Đức Từ Tế. Mỗi một đạo tràng có tông chỉ của họ, có phương hướng của họ, có mục tiêu của họ, không thể hỗn hợp lại với nhau cho loạn lên. Bạn không thể nói tôi dùng phương thức này để kéo tín đồ, tôi ở đây thứ gì cũng có, các người đến chỗ này của tôi thì thật tốt, mọi thứ đều có thể học được; nhưng kết quả thì chẳng có thứ nào học tốt được, vậy làm sao có thể nhìn người được chứ? Việc này nếu bạn không có cái nhìn sâu xa, không có trí tuệ chân thật, thì bạn sẽ không thể nhìn thấy được. Tuyệt đối không được có là tâm lượng nhỏ hẹp. Những người sơ cơ phải chỉ đạo cho họ có một phương hướng chính xác. Chúng ta lưu thông kinh sách băng đĩa đều là như vậy, nếu như kinh sách trái với Tịnh Độ bày ra nơi này của chúng ta, khi người ta nhìn thấy sẽ cho rằng chúng ta tiến cử những sách này, nếu như họ đi sai đường rồi thì ta có phải chịu trách nhiệm hay không? Trách nhiệm nhân quả này phải chịu gấp đôi, bạn chính mình đi sai đường là đáng kiếp, bạn làm cho người khác đi sai đường thì bạn chịu trách nhiệm nhân quả càng nặng hơn, việc này không thể không lưu ý, không thể không cố gắng cẩn trọng.

Cho nên, khi tôi ở Đài Bắc gần đây nhất, tôi đã từ bỏ chức vụ ở Cơ Kim Hội. Thư Viện Hoa Tạng chúng ta là một Đạo Tràng tu học, còn Cơ Kim Hội giáo dục Phật đà không phải là Đạo tràng, nó là một sự nghiệp cứu viện Phật giáo, sự nghiệp chi viện. Cho nên ở nơi đó đều in ấn kinh điển của các tông phái. Đây là chúng ta giúp đỡ các đạo tràng, tông chỉ mục tiêu này không giống nhau. Đây là chúng ta giúp đỡ người khác, giúp đỡ Đạo Tràng khác, đây không phải là làm cho cái đạo tràng này. Ở trong đạo tràng này làm những thứ tạp nham thì sai rồi. Những sự việc này trên bề mặt xem ra là việc thiện nhưng hậu quả không thể nào nghĩ ra được. Vì vậy, một đạo tràng muốn được chư Phật hộ niệm, Long Thiên ủng hộ thì không dễ dàng. Bạn phải làm đúng chánh pháp, phải chân thật đang tu hành, chân thật đang lợi ích tất cả chúng sanh thì mới được chư Phật hộ niệm, mới được Long thiên bảo hộ.

Chánh đẳng chánh giác phải phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân, lúc này kiến giải của họ đối với vũ trụ nhân sinh sẽ chính là như chúng ta nói, tức là cách nhìn, cách nghĩ rất gần với chư Phật Như Lai, cho nên gọi là chánh đẳng chánh giác. Chánh đẳng chánh giác ở trong Kinh Hoa Nghiêm nói là từ Viên Giáo Sơ Trụ mãi đến Bồ Tát Đẳng Giác (41 vị thứ đều gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác), phá một phẩm vô minh cuối cùng, trí giác viên mãn, một tí khiếm khuyết cũng không có. Lại thêm vào hai chữ “vô thượng”, Vô thượng giống như tốt nghiệp lớp tiến sĩ trong cửa Phật vậy, nếu như bạn chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng chánh giác, thì gọi bạn là Phật Đà. Nếu như bạn chứng được Chánh Đẳng Chánh giác thì gọi bạn là Bồ Tát; nếu bạn chứng được Chánh giác thì gọi bạn là A La Hán. Cho nên ba danh từ này là danh từ phổ thông, không phải chỉ để một người nào, giống như tiến sĩ, thạc sĩ, học sĩ là danh từ phổ thông. Nếu như lại thêm vào, thí dụ nói Thích Ca Mâu Ni Phật, vậy thì có phải là chỉ một người nào không? Không phải vậy, vẫn là một danh từ phổ thông, có rất nhiều Thích Ca Mâu Ni Phật, rốt cuộc thì bạn muốn tìm vị Thích Ca Mâu Ni Phật nào? Bồ Tát Quán Thế Âm cũng quá nhiều, bạn muốn tìm vị Bồ Tát Quán Âm nào? Việc này cũng giống như chúng ta gọi thạc sĩ, có thạc sĩ khoa học tự nhiên, có thạc sĩ khoa học công trình, có thạc sĩ y học, có thạc sĩ triết học, thạc sĩ trong mỗi một loại cũng rất nhiều, vậy bạn muốn tìm vị nào? Bạn muốn cho rằng Bồ Tát Quán Thế Âm chính là một người nào đó, vậy thì bạn sai rồi. Quán Thế Âm là Bồ Tát giống như thạc sĩ, trong đó khoa ngành rất nhiều, bạn nên biết Quán Âm đại biểu cho Từ Bi, đại từ đại bi gọi là Quán Thế Âm. Bồ Tát Đại từ đại bi thì rất nhiều, bạn muốn tìm vị nào? Hiện tại mọi người ở trong nhà Phật đều nhận lầm Phật, Bồ Tát là một người, không biết được là vô lượng vô biên người.

Tôi nghe nói mọi người đang tụng Kinh Vô Lượng Thọ đọc rất nhuần nhuyễn, rất nhiều người đang tụng đọc. Đọc Kinh Vô Lượng Thọ có thể giác ngộ. Trong Kinh Vô Lượng Thọ nói với chúng ta, người của thế giới Tây phương Cực Lạc là “hàm cộng tuân tu Phổ Hiền đại sĩ chi đức”. Câu này chính là nói với chúng ta, người của thế giới Tây phương Cực Lạc đều là Bồ Tát Phổ Hiền, vô lượng vô biên Bồ Tát Phổ Hiền không cách gì tính đếm được. Bạn muốn tìm Bồ Tát Phổ Hiền, vậy muốn tìm vị Bồ Tát Phổ Hiền nào? Mọi người ở thế giới Tây phương Cực Lạc đều là Bồ Tát Phổ Hiền. Cho nên nhất định phải hiểu cho rõ ràng, cho thấu đáo là thêm vào danh hiệu thì cũng giống như một học vị thêm vào hệ khóa khoa học của họ. Việc này về sau còn cần phải nói tỉ mỉ hơn với các vị, không thể không thông hiểu, không thể không hiểu rõ ràng. Chúng ta học Phật, người ta nói chúng ta mê tín, lời nói này không hề sai. Chúng ta là mê tín thật. Chúng ta tin Phật rồi, quy y rồi, cũng thọ giới rồi, nhưng Phật là gì thì không hề biết, Bồ Tát là gì cũng không được rõ ràng, mơ mơ hồ hồ như vậy mà học, đó không phải là mê tín vậy là cái gì? Phải nhận biết rõ ràng, thông hiểu tường tận, biết Phật giáo là gì, biết được học trong Phật giáo là học cái gì.

Thế nên Phật pháp mong muốn chúng ta phải minh bạch, mong muốn chúng ta cầu trí tuệ. Các vị phải ghi nhớ cầu trí tuệ trong thiền tông chú trọng minh tâm kiến tánh, trong tịnh độ chú trọng nhất tâm bất loạn. Tịnh độ tông rất đặc biệt, không những cầu nhất tâm bất loạn mà còn cầu sanh Tịnh Độ, đích xác là họ có hai mục tiêu, không như các tông phái khác. Các tông phái khác là chuyên cầu một thứ, Tịnh Độ có hai mục tiêu. Tịnh Độ không những cầu Nhất Tâm Bất Loạn mà còn cầu vãng sanh Tịnh Độ, mục tiêu này ở ngay trong đời này chúng ta nhất định phải đạt được. Nếu như các vị tụng thuộc lòng Kinh Vô Lượng Thọ, hiểu được Kinh Vô Lương Thọ rồi thì bạn không chút nào hoài nghi, khi vừa mở đề kinh ra, mục tiêu tu học của chúng ta lộ ngay ra trước mắt: “ Đại thừa Vô Lượng Thọ trang nghiêm”, đây là mong cầu của người tu tịnh độ chúng ta. Các vị xem “ Vô Lượng Thọ” trên đề kinh, chúng ta cầu là cầu vô lượng thọ, hay nói cách khác là cầu khỏe mạnh sống lâu. Trang nghiêm chính là tự tại mỹ mãn, đó mới là trang nghiêm. Dùng phương pháp gì để cầu vậy? Có phương pháp để cầu. Trên đề kinh đoạn sau đã nói: “ Thanh tịnh Bình đẳng Giác”, đây là phương pháp.

Do đây mà biết, chúng ta học Phật là cầu cái gì? Là cầu tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm giác. Ba cái tâm này là ba mà một, một mà là ba; một cái được rồi thì đồng thời ba cái đều được, tất cả Phật Pháp đều không ngoài một nguyên tắc này. Thiền tông ở trong ba điều này chỉ riêng cầu giác, cho nên giống như cái giảng đường này có ba cửa, khi bước vào thì họ bước vào từ cửa giác, Thiền tông từ cửa giác, họ phải đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, vậy thì vào được cửa. Ngoài Thiền tông ra còn có Giáo Hạ, trong Giáo Hạ thì từ nơi cửa giải mà vào, đại khai viên giải cũng chính là Chánh Môn, Chánh tri chánh kiến, từ ngay đây mà tiến vào. Tịnh Độ tông chúng ta là từ nơi tâm thanh tịnh, khi tâm thanh tịnh rồi thì đương nhiên bình đẳng, đương nhiên giác ngộ. Giác ngộ rồi thì cái tâm đó đương nhiên thanh tịnh, đương nhiên bình đẳng. Có thể thấy được cái gọi là: “ pháp môn vô lượng, thù đồ đồng quy”, pháp môn đường lối không giống nhau nhưng chỗ quay về cuối cùng thì hoàn toàn giống nhau, đều là Minh Tâm Kiến Tánh. Thế nhưng trong Thiền tông nói danh từ này, các tông phái khác không có cách nói như vậy. Tịnh Độ tông chúng ta gọi là Nhất Tâm Bất Loạn, Nhất Tâm Bất Loạn chính là Minh Tâm Kiến Tánh của nhà Thiền, trong Giáo hạ gọi là Đại khai viên giải, các vị nên biết trong Mật Tông thì gọi là Tam Mật Tương Ưng. Danh từ tuy khác nhau, nhưng cùng một sự việc, cùng một cảnh giới.

Do đó, đối với bất cứ một pháp môn nào, chúng ta cũng không nên phê bình, không được nói pháp môn đó không tốt. Nói pháp môn nào đó không tốt chính là phỉ báng Phật, phỉ báng pháp. Các pháp đó đều là do Thích Ca Mâu Ni Phật truyền lại, con đường đó đều có thể thành tựu, vì sao bạn có thể nói nó không tốt chứ? Chỉ có trong vô lượng vô số phương pháp, chính chúng ta phải chọn lựa ra một pháp môn. Điều kiện chọn lựa là:

-        Thứ nhất phải thích hợp với trình độ của chúng ta. Nếu như pháp môn đó yêu cầu trình độ quá cao, chúng ta không cách gì tu học, vậy thì khi học sẽ rất khó khăn, không dễ gì thành tựu. Cho nên pháp môn mình chọn học phải thích hợp trình độ của chính mình thì khi học mới thuận tiện.

-        Thứ hai là phải thích hợp với hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình, phải thích hợp với bối cảnh thời đại hiện đại này. Bởi vì chúng ta không thể rời khỏi xã hội, không thể rời khỏi mọi người, cho nên cần phải suy xét những điều này. Thông thường mà nói, như phía trước đã nói, không luận tu học một pháp môn nào, một phương pháp nào đều cần phải phá ngã kiến, phá ngã chấp mới có thể có thành tựu. Nếu không phá ngã kiến, phá ngã chấp thì như ta thường nói là dụng công không có hiệu quả.

Tôi nghĩ có rất nhiều đồng tu học Phật, nhiều năm học Phật đều có kinh nghiệm này. Không thể dụng công được hiệu quả, học được nhiều năm rồi vẫn cứ là như vậy, thậm chí càng học càng khổ, lúc chưa học Phật thì còn tốt, sau khi học Phật rồi thì càng học càng khổ. Đó đều là do không đắc pháp, pháp môn này không thích hợp với chính mình. Cũng giống như bạn chọn lựa chuyên ngành khi bạn vào trường học vậy, nền tảng của bạn, trình độ của bạn không thích hợp với chuyên ngành mà bạn chọn thì tức là bạn đã chọn sai chuyên ngành, bạn học tập khó khăn, hơn nữa rất khó có được thành tựu. Chọn đúng rồi thì rất dễ, cũng sẽ mau thành tựu. Chúng ta chọn lựa pháp môn, điểm này rất quan trọng.Nếu như không biết được căn tánh của chính mình ra sao thì cũng có thể thử nghiệm xem sao, Thiền, Giáo, Mật, Luật đều có thể thử nghiệm xem.

Tu học của chính tôi là một thí dụ.Sau khi đọc qua rất nhiều kinh đại thừa, nghĩ lại chính mình không học được, không thể trừ được vọng tưởng phân biệt chấp trước, tôi cũng rất muốn trừ mà không thể trừ được, cuối cùng mới nghĩ đến pháp gì? Niệm Phật có thể mang nghiệp vãng sanh, chính là vọng tưởng phân biệt chấp trước chưa trừ dứt vẫn được, vậy thì pháp môn này rất thích hợp với tôi. Tôi chọn lựa pháp môn học là như vậy. Pháp khác tôi nghĩ lại đều không được, những kinh nghiệm về các pháp môn này tôi đều biết giảng, tôi giảng được còn dễ nghe hơn người khác nhưng tôi làm không được.Cho nên Thiền, Mật, Giáo, Luật tôi đều đã từng lướt qua, xét nghĩ đều không thể ứng dụng, quay đầu lại cắm cổ dùi đầu niệm A Di Đà Phật, chuyên giảng kinh điển Tịnh Độ, đây là thể nghiệm trong mấy mươi năm qua của tôi.

Thế nhưng gần đây tôi lại giảng những kinh điển khác, đó là do nguyên nhân gì vậy? Đó là do bức bách không cách gì từ chối, bởi vì những kinh điển Đại thừa này không có người giảng, hiện tại người giảng kinh càng ngày càng ít, đây là một hiện tượng rất bi ai.Do đó, tôi rút ra một ít thời gian giảng những kinh này làm thành băng đĩa, lưu lại cho những người có hứng thú đối với những kinh điển này, giúp cho họ có để tham khảo, nguyên nhân là như vậy. Nếu như có người giảng tôi tuyệt đối sẽ không giảng, do vì cần thiết nên không cách gì từ chối.

Việc này trước tiên người học Phật chúng ta cần phải nhận biết cho rõ ràng. Sau khi hiểu rõ mục tiêu giáo học của Phật pháp rồi, cách nhìn của chúng ta đối với kinh điển của Phật giáo sẽ khác đi. Kinh điển của Phật giáo, có thể nói là tủ sách có số lượng rất lớn ở thế gian này.Tất cả học thuyết trên thế gian này, kể cả học thuyết của các tôn giáo, điển tích cũng không vượt qua Phật giáo. Vậy thì kinh điển của Phật giáo nhiều đến như vậy, trong đó rốt cuộc là nói về nhưng vấn đề gì? Việc này chúng ta không thể không biết, người học Phật rất nhiều, người đọc kinh cũng rất đông, thậm chí đến người giảng kinh cũng rất nhiều. Tôi đã từng gặp qua một vị giảng kinh là một vị cư sĩ tại gia, giảng cũng rất nổi tiếng, thường giảng giải kinh Phật trong rất nhiều các trường đại học, cao đẳng. Có một lần tôi gặp ông ấy, tôi liền hỏi ông ấy là: “hiện tại ông giảng đều là Kinh Luận quan trọng của đại thừa, vậy toàn bộ Đại Tạng Kinh rốt cuộc là nói về cái gì? Ông có thể dùng một câu nói trả lời cho tôi không? Sau khi nghe tôi hỏi, ông ấy cũng suy nghĩ rất lâu nhưng không trả lời được, thế là ông hỏi ngược lại tôi.

Tôi nói với ông ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật 49 năm nói ra tất cả kinh, chỉ nói một sự việc, nếu như dùng danh từ của Phật giáo để nói thì trong kinh Bát Nhã đã nói là “chư pháp thật tướng”. Chư pháp là tất cả pháp, thật tướng chính là chân tướng, câu nói này nếu dùng lời hiện đại mà nói, chính là chân tướng của vũ trụ nhân sanh.Vũ trụ chính là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta, nhân sanh chính là con người chúng ta. Vậy thì do đây mà biết, tất cả kinh mà Thích Ca Mâu Ni Phật đã giảng, nội dung của nó chính là nói chân tướng hoàn cảnh sinh hoạt của chính chúng ta, cùng chính là con người của chúng ta. Tôi bảo ông ấy nghĩ lại xem, tôi nói cái đáp án này ông có vừa ý hay không? Nếu như không biết kinh Phật đã nói về cái gì thì chúng ta đối với kinh điển của Phật sẽ không có cách gì hiểu được, mở quyển kinh ra bạn sẽ nghĩ tưởng lung tung, càng nghĩ càng sai, càng nghĩ càng thấy cùng Phật pháp với đời sống của chúng ta đều không có liên quan gì, liền cho nó là huyền học, vậy có lợi ích gì chứ?

Cho nên nhất định phải nhận biết rõ ràng là, không luận kinh điển đại thừa hay tiểu thừa, cạn hay sâu thì mỗi câu mỗi chữ đều có liên quan mật thiết với sinh hoạt thường ngày của chúng ta. Sau đó mới biết được, tiên sinh Âu Dương Cảnh Vô vì chúng ta nói ra: “Phật pháp là cái mà người đời nay cần phải có” chúng ta liền sẽ đồng ý lời nói này, liền có thể khẳng định ông nói rất chính xác. Cho nên, mỗi câu mỗi chữ của kinh điển có liên quan mật thiết với đời sống của chúng ta.Vậy thì do đây có thể biết, Phật pháp nhất định không phải là mê tín. Chúng ta học Phật bước vào từ chỗ nào? Phải bắt đầu từ đâu? Việc này rất quan trọng. Hôm qua đã nói sơ qua một tí về ý nghĩa biểu pháp của danh hiệu chư Phật Bồ Tát, việc này nhất định phải hiểu thì mới biết được giáo học của Phật pháp là phương pháp viên mãn, ở trong Phật pháp chúng ta gọi là phương tiện khéo léo, dùng lời hiện đại mà nói chính là cảnh giới nghệ thuật cao độ.

Giáo học của Phật giáo mấy ngàn năm qua đã hướng đến nghệ thuật hóa Phật giáo. Tất cả danh hiệu của chư Phật, tượng chư Phật đều là biểu thị tánh đức trong chân tâm bổn tánh của chúng ta vốn dĩ đầy đủ. Phàm hễ là danh hiệu của Bồ Tát cho đến tượng của các Ngài đều là biểu thị tu đức, cũng chính là nói với chúng ta là ở ngay trong cuộc sống thường ngày, chúng ta phải nên tu học thế nào mới có thể khiến cho tánh đức của chúng ta hoàn toàn hiển lộ ra, để nhận được thọ dụng ở ngay trong cuộc sống. Như vậy có thể thấy được giáo dục của Phật đích thực là siêu việt hơn tất cả giáo dục của thế gian. Tôi nghĩ các vị đồng tu chính mình đều đã đích thân trải qua cảm thụ này. Chúng ta đã từng học qua tiểu học, trung học, đại học, học qua rất nhiều giáo trình, sau khi tốt nghiệp thì có được mấy thứ có thể áp dụng ngay trong cuộc sống này? Nếu như học những thứ này mà không thể dùng được, các vị thử nghĩ xem, chúng ta đã lãng phí hết bao nhiêu thời gian? Hao tổn bao nhiêu tâm lực? Có học mà không có dùng thì lọai giáo dục như vậy là không tốt rồi, đó không phải là một loại giáo dục tốt nhất. Giáo dục tốt nhất quyết định không lãng phí một giây, một phút thời gian của chúng ta, để những gì chúng ta đã học được lập tức có thể áp dụng được ngay trong cuộc sống, đây mới gọi là giáo dục tốt. Phật pháp thì có thể đạt đến được mục tiêu “giáo dục chí thiện viên mãn” này.

Phật giáo ở Trung Quốc, đặc biệt là Phật pháp Đại thừa, chúng ta lấy bốn vị Đại Bồ Tát làm đại biểu cho thứ lớp tu học của chúng ta, đại biểu cảnh giới tu học của chúng ta. Bốn vị Bồ Tát này tu là có thứ lớp, thế nhưng trong thứ lớp có viên dung, như vậy mới chân thật gọi là viên mãn.Trong thứ lớp không có viên dung, trong viên dung không có thứ đệ thì cũng không phải là hoàn hảo nhất, cũng không phải là tốt nhất. Cho nên trong thứ lớp đó có viên dung, viên dung chính là không có thứ lớp, bên trong không có thứ lớp lại có thứ lớp. Cũng giống như chúng ta hiện tại lên tòa nhà lầu cao vậy, lầu cao có cầu thang, cầu thang là thứ lớp, ngoài cầu thang ra có thang máy, thang máy thì không có thứ lớp nhưng đầy đủ, vậy mới gọi là viên mãn, chúng ta mới an tâm. Việc này dùng để thí dụ Phật pháp, Phật pháp rất gần giống như vậy. Từ nơi thứ lớp mà nói thì bốn vị bồ tát này là:

  1. (i) Thứ nhất là Bồ Tát Địa Tạng

 

Chúng ta học Phật bắt đầu vào từ chỗ nào vậy? Từ nơi Bồ Tát Địa Tạng mà bắt đầu. Tịnh tông học hội nơi đây, gần đây đã mua một hội sở, cũng có đất. Tất cả thế xuất thế gian pháp, nếu bạn không có đất, không có nơi chốn thì bạn cũng không thể làm gì được.Một người chính mình cũng phải có ngôi nhà nho nhỏ, cũng phải có một nơi để có thể dừng chân. Đất là vô cùng quan trọng mà Ngài Bồ Tát Địa Tạng đã biểu thị. “Địa” này chính là tâm địa, “Tạng” là Bảo tạng, chúng ta biết con người chúng ta sinh sống ở thế gian này.Không thể rời khỏi đại địa, chúng ta phải nhờ vào nó để sinh tồn, ăn uống đi lại đều phải nhờ vào đại địa sản sinh ra, cho nên đại địa hàm chứa vô tận Bảo tàng, chúng ta lấy không hết, mà dùng cũng không cạn.

Phật dạy chúng ta tu học trước tiên phải từ nơi tâm địa mà hạ công phu, trong chân tâm bổn tánh của chúng ta có vô tận trí tuệ, có vô lượng đức năng, đó chính là hàm chứa trong tâm của bạn, đó là trong tâm tánh của chính mình vốn dĩ đầy đủ. Tuy là trong tự tánh có vô lượng trí tuệ đức năng, nhưng trí tuệ đức năng ngày nay của chúng ta dường như đã bị đánh mất, biến thành không có trí tuệ, không có năng lực. Nhưng Phật đã nói với chúng ta, trí tuệ đức năng của chúng ta không hề khác biệt với chư Phật Bồ Tát, năng lực này tuy là đánh mất, nhưng Phật nói với chúng ta tuyệt nhiên không phải là mất thật. Vì sao bị mất vậy? Bị mê mất.Nếu như bạn giác ngộ rồi thì trí tuệ đức năng này liền lại hiện tiền, lại được hồi phục. Dáng vẻ của mê như thế nào vậy? Trước tiên chúng ta không cần nghiên cứu lý luận của mê, vì sao bị mê, việc đó nói ra thì rất sâu. Dáng vẻ của mê là thế nào? Vọng tưởng là mê, phân biệt là mê, chấp trước là mê. Hiện tại chúng ta thật là từ sớm đến tối, khởi tâm động niệm dấy khởi vọng tưởng.Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là dáng của mê.

Dáng vẻ của giác là thế nào vậy? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều không còn nữa, đó chính là dáng của giác. Cho nên trên kinh, Phật nói với chúng ta: “chân tâm là giác”. Mỗi người chúng ta đều có cái chân tâm này, trong chân tâm không có vọng niệm, tâm có vọng niệm thì gọi là vọng tâm, trong chân tâm đã có vọng niệm thì liền không thể gọi nó là chân tâm, mà gọi nó là vọng tâm.Chân tâm là lìa niệm. Chúng ta học Phật không gì khác hơn là hồi phục lại chân tâm mà thôi, đây cũng chính là mục tiêu tu học thứ nhất, là khai mở bảo tạng trong tâm địa của chúng ta ra. Phật pháp không phải hướng ngoại mà cầu, việc này mọi người đều phải nên ghi nhớ, Phật pháp hướng vào ngay trong tự tánh mà cầu, cho nên Phật pháp là Tâm pháp. Ở Ấn Độ xưa, Phật học gọi là nội minh, thời xưa ở Ấn Độ cũng đem học trình này phân loại, không giống như hiện tại phân nhỏ đến như vậy, họ phân rất đơn giản, họ phân làm năm loại lớn. Phật học và triết học được phân loại là nội minh, đây là hướng vào nội tâm mà cầu, không hướng ra bên ngoài.

Cho nên Phật pháp là giáo dục khởi phát tự tánh, giáo dục hồi phục bản năng. Kinh Địa Tạng chính là tuyên nói cho chúng ta pháp môn này, nói với chúng ta là trong tự tánh của chính chúng ta đầy đủ viên mãn nhất. Tôi tin là rất nhiều đồng tu đã đọc qua Kinh Địa Tạng, nếu như bạn không hiểu ý nghĩa thì bạn tụng Kinh Địa Tạng cũng giống như đọc tiểu thuyết thần thọai vậy. Kinh điển của Phật từ nơi biểu hiện có thể phân làm hai loại lớn:

*       Một loại thì nói về sự, Kinh Địa Tạng nói về sự, Kinh Di Đà cũng nói sự.Cho nên bạn xem ra cũng giống như tiểu thuyết vậy, dường như không có thứ gì là giống nhau cả,thế nhưng loại kinh này rất khó giảng.Trong sự lý có đạo lý, bạn không thể đem đạo lý giảng cho rõ ràng, giảng cho minh bạch thì những sự việc này ai tin tưởng chứ? Cho nên loại kinh điển này khó giảng.

*       Ngoài ra một loại nữa là nói về lý, như Kinh Kim Cang giảng lý, Tâm Kinh giảng lý. Giảng lý thì trái lại chúng ta dễ hiểu, rất bội phục. Thế nhưng trong lý có sự, nếu như không đem sự thật nói ra được, vậy những lý của đạo lý đều trống rỗng, đều biến thành không lý.

Đây là Kinh Luận của Phật pháp, chúng ta nghiên cứu giảng giải thì không thể không biết. Khi giảng về sự thì bạn phải hiểu được lý, khi giảng về lý thì bạn phải biết làm thế nào ứng dụng được cái lý này ngay trong cuộc sống thường ngày.

Vừa mở đầu Kinh Địa Tạng, khi vẫn còn chưa giảng đến kinh văn, thì Phật trước tiên phóng quang hiện tướng lành, phóng ra đại quang minh vân, đây chính là biểu thị một loại phương pháp giáo nghĩa của toàn kinh. Quang minh là trí tuệ, đại quang minh chính là trí tuệ cứu cánh viên mãn, là trí tuệ không gì không biết, không gì không thể. Trí tuệ này ở nơi đâu vậy? Ở ngay nơi tự tánh của chính chúng ta. Trong tất cả kinh điển Phật thường dùng Mây để thí dụ cái chân tướng sự thật này. Bạn nói Mây có hay là không có vậy? Nếu như nói không có, chúng ta nhìn lên bầu trời thấy từng đám mây rất rõ ràng, thấy được rất rõ ràng, rất tường tận, cho nên nó có thật.Nhưng nếu chúng ta ngồi trên máy bay, bay lên trên từng không thì có Mây hay không vậy? Không có. Cho nên Phật dùng chữ Mây này để đại biểu cho một sự việc là không thể nói có, cũng không thể nói không có.

Chẳng có chẳng không mới là chân tướng sự thật.Nếu bạn nói nó nhất định có là sai rồi, bạn thấy sai rồi, đó gọi là mê. Ngày nay chúng ta đem tất cả sự tướng của vũ trụ nhân sanh xem là thật có, điều này thật là chúng ta đã sai rồi. Tất cả các pháp bao gồm cả thân chúng ta đều là phi hữu phi vô, đây là thật tướng. Cho nên không thể nói cái này là có cũng không thể nói nó là không. Nếu bạn nói không có thì sao hình tướng nó tồn tại rõ ràng, nếu bạn nói nó có thì sao đương thể của nó đều không? Nhưng câu này không phải dễ hiểu, nhà khoa học phương tây hiện đại hiểu, họ đã phát hiện trong vật lý học vô cùng tiến bộ hiện nay, tất cả các vật chất là một hiện tượng, do nhân duyên kết hợp giống như trong Phật pháp đã nói, do duyên kết hợp lại thì có hình tướng này, duyên tan thì không còn hình tướng này nữa. Nhà khoa học hiểu rõ đạo lý này. Nếu như chúng ta hiểu được đạo lý này thì sẽ hiểu được chẳng có chẳng không mà Phật dạy cho chúng ta, chúng ta liền có thể thể hội được, liền có thể hiểu được câu nói này.

Thí dụ cái khăn lông này, chúng ta nhìn thấy cái này trước mắt là có, Phật thì nói với chúng ta nó chẳng có chẳng không.Bạn không thể nói nó có, vì sao vậy? Vì nó do duyên tạo thành. Khi chúng ta đem những sợi chỉ trong đây kéo ra thì là một sợi chỉ, chiếc khăn này là do chỉ đan lại mà thành, cho nên khi bạn kéo những sợi chỉ này ra rồi thì cái tướng của chiếc khăn không còn nữa.Thật sự khi chưa đan nó, bạn chỉ nhìn thấy chỉ chứ làm gì có cái khăn này?

Tất cả pháp đều là như vậy.Thế nên hiện tại vật lý học phân tích được rất tỉ mỉ, vật lý học đem tất cả vật chất phân thành phân tử, phân thành nguyên tử, phân thành điện tử, phân thành hạt tử, họ từ nơi đó mà thấy tất cả pháp chẳng có. Thế nhưng từ trên hình tướng to lớn mà nhìn thì tất cả pháp chẳng không. Phật vì muốn đem cái hình tướng này nói cho rõ ràng, nói cho tường tận nên dùng mây để làm tỉ dụ, làm đại biểu vạn pháp chẳng có chẳng không, đây mới là chân tướng sự thật.

Do đó, Phật dạy cho chúng ta thái độ để sống, trong Kinh Kim Cang đã nói ra một nguyên tắc lớn, một tổng nguyên tắc gọi là “Vô trụ sanh tâm”. Vô trụ là gì vậy? Bạn không nên tưởng thật, không nên chấp trước, tất cả đều là giả.Bạn tưởng thật, chấp trước là bạn sai rồi. Cho nên Phật bảo bạn “Vô trụ” thì tâm của bạn được nhiều tự tại. Vô trụ đơn giản mà nói là tâm của chúng ta phải thanh tịnh, không có lo lắng, không có dính mắc, không có vọng tưởng, không có phân biệt, không có chấp trước, bạn nói xem an lạc dường bao! Tâm của bạn được thanh tịnh, đó là ý nghĩa của vô trụ. Sanh tâm thì sao? Bạn nhất định phải sanh cái tâm giúp đỡ tất cả chúng sanh.

Chúng ta sống ở thế gian này không nên vì chính mình, vì chính mình thì phạm vi đó quá nhỏ, đó chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Ta sống ở thế gian này là vì ai vậy? Vì tất cả chúng sanh. Bạn nói vì gia đình của bạn, vì chủng tộc của bạn, vì thôn xóm của bạn, vì quốc gia của bạn, thì phạm vi đó cũng là quá nhỏ. Một quốc gia của bạn tốt, nhưng quốc gia lân cận không được tốt thì bạn cũng không trải qua được những ngày tháng tốt đẹp. Chúng ta mong muốn quốc gia của ta tốt và cũng mong muốn mỗi một quốc gia khác cũng đều tốt, như vậy thiên hạ mới có thể được thái bình, mọi người mới có thể được hạnh phúc. Vì vậy tâm lượng phải lớn, tầm nhìn phải xa, Phật dạy chúng ta sanh cái tâm này. Sanh tâm này là từ trên hiện tướng mà nói, tướng có tốt xấu, có thiện ác, ở trong Phật pháp gọi là có mười pháp giới, mười pháp giới là tướng, hướng lên trên có Phật, có Bồ Tát, có Duyên Giác, có Thanh Văn, phía dưới thời có sáu cõi. Tướng của sáu cõi từ đâu mà ra vậy? Do tâm của bạn biến hiện ra. Ai là chủ nhân của sáu cõi mười pháp giới? Là chính ta, không phải ai khác.Việc này trong kinh đại thừa Phật thường nói: “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”.

Do đây mà biết, tâm tưởng của chúng ta quan hệ quá lớn, trên Kinh Hoa Nghiêm Phật nói rằng: “Vũ trụ nhân sanh do tâm hiện ra, do thức biến ra”. Tướng nhất định là có, tướng nhất định không thể tiêu mất.Việc này phải biết tướng không thể bị tiêu diệt, thế nhưng tướng sẽ biến đổi, không thể diệt là thật, nhưng nó sẽ biến đổi, vì sao có thể biến đổi vậy? Bởi vì bạn có vọng niệm nên liền biến đổi, tưởng cái gì liền biến cái đó. Bạn tưởng Phật liền biến thành Phật, tưởng Bồ Tát liền biến thành Bồ Tát. Thế giới này ngày nay biến thành động loạn như vầy là do nguyên nhân gì vậy? Bởi vì nghĩ tưởng của mọi người đều là tham sân si, thì thế giới này liền động loạn thôi, không thể tưởng được. Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh, thế cho nên “sanh tâm” là vô cùng quan trọng. Cho nên Phật dạy chúng ta không nên sanh tâm luân hồi, không nên sanh tâm sáu cõi, tốt nhất sanh tâm gì vậy? Sanh tâm thành Phật.

Vì vậy, tất cả chư Phật đều khuyên chúng ta niệm Phật A Di Đà, niệm Phật A Di Đà tốt mà, niệm Phật A Di Đà thì tương lai thành Phật A Di Đà, vậy thành Phật khác không tốt hay sao? Các Phật khác không thể sánh với Phật A Di Đà. Phật thì đều là bình đẳng, Phật Phật đạo đồng, Phật Phật bình đẳng, vậy vì sao Phật A Di Đà lại đặc thù chứ? Chúng ta đọc thấy trong kinh Vô Lượng Thọ, Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta, mười phương tất cả chư Phật Như Lai thì Phật A Di Đà là bậc nhất, trên kinh xưng tán Ngài là quang trung cực tôn, vua trong các Phật, cho nên Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta đi làm Phật A Di Đà, không làm Phật khác, làm Phật khác không phải là vua trong các Phật. Nếu Phật không khuyên bạn niệm Phật A Di Đà thì tương lai bạn biết được Phật A Di Đà rồi, nếu như gặp được Thích Ca Mâu Ni Phật, bạn sẽ trách Ngài Thích Ca Mâu Ni Phật vì sao không dạy bạn niệm Phật A Di Đà, Ngài dạy tôi niệm Phật khác, Ngài không đủ thành ý, Ngài có lỗi với tôi.Đích thực là như vậy.

Cho nên Thích Ca Mâu Ni Phật chính mình cũng niệm Phật A Di Đà, không một vị Phật nào không niệm Phật A Di Đà, đây là chúng ta xem thấy ở trong Kinh Vô Lượng Thọ, trong Kinh Di Đà. Kinh A Di Đà sáu phương Phật chính là nói về đoạn này, Phật A Di Đà là cứu cánh trong các Phật, là đại viên mãn ngay trong các Phật. Bạn xem, ý nghĩa biết bao. Tôi biết được pháp thù thắng bậc nhất trong tất cả pháp mà tôi không nói với bạn, tôi lại nói với bạn cái thứ hai, thứ ba, thì tôi sẽ có lỗi với bạn. Tuy là hiện tại bạn không biết, tóm lại sẽ có một ngày bạn hiểu ra, sẽ có một ngày bạn thấy được thì lần gặp đó sẽ rất đau lòng. Ngày hôm nay tôi đem pháp môn đệ nhất nói cho bạn nghe, bạn không tiếp nhận, đến sau này bạn đi qua rất nhiều đoạn đường oan uổng, khi gặp lại tôi bạn cũng sẽ không có lời gì để nói. Đây không phải là lỗi của tôi, là do chính bạn do dự hoài nghi, không thể tiếp nhận, tự đi sai đường.

Phật, Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh gọi là đại từ đại bi. Hai chữ “Từ Bi” dùng lời hiện tại mà nói chính là quan tâm chăm sóc. Sự quan tâm chăm sóc của chư Phật Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh vượt hơn cha mẹ, vượt hơn người thân, thứ mà Ngài cho ta nhất định là thứ tốt nhất. Thứ tốt nhất mà không thể tiếp nhận thì sẽ cho bạn cái thứ hai, sẽ cho bạn cái thứ ba. Cho nên chư Phật Bồ Tát tiếp dẫn chúng sanh, giáo hóa chúng sanh, phương thức thái độ của Ngài tất nhiên như thế. Trí tuệ đức năng của tâm tánh vô lượng vô biên, trên Kinh Địa Tạng chỉ dùng mười câu nói để biểu thị, cũng chính là nói đem đức năng trí tuệ vô lượng vô biên quy nạp làm mười loại lớn để dễ dạy bảo. Trong mỗi một loại thực tế mà nói đều là vô lượng vô biên, như Kinh Vô Lượng Thọ này.

Hiện tại các vị đang đọc tụng Kinh Vô Lượng Thọ, khi vừa mở đầu đề kinh, Phật nói “Đại thừa Vô lượng thọ”. Thọ là một loại trong vô lượng làm đại biểu, bạn không nên chỉ xem thấy vô lượng thọ mạng, còn các thứ khác đều không có, không phải vậy. Mọi thứ đều vô lượng, mọi thứ vô lượng nói không cùng tận, dùng một cái thọ mạng để làm đại biểu. Trong tất cả vô lượng, thọ mạng vô lượng là bậc nhất. Thí dụ nói bạn có vô lượng trí tuệ, vô lượng tài năng, vô lượng năng lực, vô lượng của cải, vô lượng nhà đất, nhưng bạn không có thọ mạng, bạn đoản mạng, vậy thì tất cả vô lượng kia cũng đều bằng không. Cho nên trong tất cả vô lượng phải lấy thọ mạng làm bậc nhất, bạn có vô lượng thọ thì bao gồm tất cả vô lượng bạn mới hưởng thọ được, bạn mới thọ dụng được. Cho nên thọ mạng ở trong tất cả vô lượng gọi là đệ nhất, nếu xếp thứ tự thì xếp thứ nhất, do đó trên kinh dùng vô lượng thọ để làm đại biểu, tuyệt đối không phải là một loại, à là không có thứ nào không là vô lượng. Đây chính là mười loại lớn, mọi thứ đều là vô lượng.

Thứ nhất là đại viên mãn là nói chung, chín loại phía sau là nói riêng, ở câu đầu là đại viên mãn. Đại viên mãn chính là một chút khiếm khuyết cũng không có, giống như trong Thiền Tông thời Đường triều, đại sư Lục tổ Huệ Năng khi khai ngộ, hướng đến thầy của Ngài đưa ra báo cáo, nói rõ tâm đắc của Ngài, Ngài chỉ nói ra năm câu, trong đó có một câu “Nào ngờ tự tánh vốn sẳn đầy đủ”. Câu nói này chính là không ngờ đến trong chân tâm bổn tánh của chính chúng ta tất cả đều đầy đủ, giống nhau không hề khiếm khuyết.Câu nói này cái ý là như vậy, đây chính là đại viên mãn.

Ngoài ra chín điều khác, nói riêng đều là thuộc về cương lĩnh. Kế đến là từ bi. Mười câu nói này đều gọi là quang minh vân “đại viên mãn quang minh vân, đại từ bi quang minh vân, đại trí tuệ quang minh vân. Vậy thì do đây có thể biết, từ bi là trong bổn tánh vốn đầy đủ, không phải do học mà có, là thiên tính. Mạnh Tử thời xưa của Trung Quốc đã nói: “Tâm trắc ẩn thì mọi người đều có”. Nhìn thấy một đứa bé gặp phải chỗ nguy hiểm, nhất định sẽ đưa tay mà kéo nó ra cho dù là bạn có quen hay không, vì sao vậy? Lòng trắc ẩn, thiên tính trong bổn tánh vốn sẳn đầy đủ. Ngày nay chúng ta đối với tất cả chúng sanh, loại tâm từ bi này vì sao không có vậy? Bởi vì khởi lên vọng tưởng, bên trong sanh ra lời lỗ, được mất, một ý niệm khởi lên là việc này có lợi cho chính mình hay không? Có lợi mới làm, không có lợi thì không làm. Họ đã khởi lên loại vọng tưởng, phân biệt, chấp trước này, nên làm cho thiên tính bị mất đi. Thế nên Phật pháp dạy chúng ta đoạn trừ tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước để hồi phục lại tự tánh.

Chúng ta vốn dĩ đối với tất cả chúng sanh không có phân biệt, không có chấp trước, thương yêu bình đẳng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nếu như các vị bình lặng mà suy xét, bạn nói xem cuộc sống như thế tốt đẹp dường nào? Ngay trong lý tưởng thông thường chúng ta là chân-thiện-mỹ, Phật pháp dạy chúng ta đích thực là chân-thiện-mỹ. Chân-thiện-mỹ là tánh đức của chúng ta, chúng ta vốn dĩ đầy đủ chân-thiện-mỹ, hiện tại ba thứ này đều mất hết.

Đại trí tuệ quang minh vân của chúng ta vốn dĩ đầy đủ, trí tuệ viên mãn, vũ trụ nhân sanh rõ ràng thấu đáo, thông suốt tường tận, không gì không biết, không gì không thể. Ngày nay Trí cùng Năng của chúng ta đều mất hết, cái mất này vừa rồi đã nói là mê mất, không phải thật đã mất đi, thật đã mất đi vậy thì tự tánh không thể đầy đủ, chỉ là mê mất thôi. Tuy có nhưng bạn không biết dùng, nên cũng không khởi được tác dụng. Cho nên sau khi phá mê khai ngộ rồi, thì cái tác dụng đó liền hiện tiền, liền khởi lên tác dụng.

“Đại Bát Nhã quang minh vân”, trí tuệ cùng Bát Nhã có lúc là một ý nghĩa, Bát nhã chính là trí tuệ, trí tuệ chính là Bát Nhã.Nếu như trí tuệ cùng Bát Nhã hai thứ này đều nêu ra, vậy thì không phải một ý nghĩa. Bát nhã gọi là căn bản trí, Trí tuệ gọi là hậu đắc trí. Căn bản trí cùng hậu đắc trí là danh từ của Phật học, dùng lời hiện tại mà nói thì một cái là thể của trí tuệ, một cái là tác dụng của trí tuệ. Bản thể của trí tuệ chúng ta gọi nó là Bát nhã, tác dụng của trí tuệ chúng ta gọi nó là Bát nhã, cho nên trí tuệ cùng Bát nhã hai danh từ này họp lại ý nghĩa chính là như vậy. Vậy thì thể của Bát nhã là gì? Việc này chúng ta không thể không biết, giống như một thân cây vậy, nếu không có gốc thì làm gì có cành lá hoa trái? Bát nhã là bản thể của trí tuệ, chính là căn bản của trí tuệ, còn tác dụng của trí tuệ đó chính là cành lá hoa trái.

Người hiện tại thông minh cực đoan, hôm qua đã nói với các vị rồi, Phật không thể không thừa nhận họ giác, giác chính là có trí tuệ, thế nhưng Phật không thừa nhận họ là chánh giác, vì sao vậy? Chánh giác là họ thật có trí tuệ, trí tuệ chân thật. Người hiện nay không phải chánh giác tuy nhiên thông minh tuyệt đỉnh, nhưng Phật thì không cho rằng họ có trí tuệ, vì họ không có căn bản của trí tuệ, đương nhiên là họ cũng không có cành lá hoa quả của trí tuệ, đây là đạo lý nhất định. Thế nên cái biểu hiện ra của họlà thế trí biện thông, họ có thông minh trí tuệ của thế gian, không phải trí tuệ như trong Phật pháp đã nói, nghĩa là họ không có trí tuệ chân thật trong bổn tánh, họ không kiến tánh, khác biệt ở ngay chỗ này.

Căn bản trí tuệ trong Bát nhã nói rất hay, nếu như các vị hiểu rõ tất cả pháp mà Phật đã nói 49 năm, bạn liền biết được trung tâm của Phật pháp ở chỗ nào. Tất cả pháp do Thích Ca Mâu Ni Phật cả đời đã nói, đại đức xưa Trung Quốc đã đem chia làm năm giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất là Phật giảng Kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm là Phật giảng ở trong định, khi Thích Ca Mâu Ni Phật mới thành Phật, Ngài ngồi tĩnh tọa nhập định dưới cội Bồ Đề nói ra kinh này,người thông thường chúng ta không thể nhìn thấy.Người thông thường chỉ nhìn thấy Thích Ca Mâu Ni Phật ngồi thiền dưới cội Bồ Đề, không biết được Ngài ngồi đó giảng kinh. Cho nên hiện tại tiểu thừa của Thái Lan, tiểu thừa của Srilanka không thừa nhận Phật giáo đại thừa. Họ cho rằng đại thừa không phải Phật nói, họ chưa từng nghe nói Thích Ca Mâu Ni Phật nói qua Phật pháp Đại thừa, đặc biệt là Kinh Hoa Nghiêm. Căn bản là họ không thể tiếp nhận. Phật giảng kinh này là ở trong nhị thất như phần đầu đã nói, nhị thất là 14 ngày, tham dự pháp hội này không phải là người thông thường, đều là pháp thân đại sĩ thì họ mới có năng lực tiến vào trong cảnh giới định của Thích Ca Mâu Ni Phật để nghe kinh, người khác thì không cách gì vào được. Bạn nói người đó đang nằm mộng, chúng ta có thể có năng lực bước vào trong cảnh giới mộng đó của họ không? Bạn không có được cái bản lĩnh này thì bạn không thể tham gia được pháp hội của họ.

Cho nên pháp hội Hoa Nghiêm là pháp hội của 41 vị pháp thân đại sĩ đến tham dự, đây là bộ đại kinh thứ nhất của Phật. Nội dung bên trong như đã nói, đây là cảnh giới chân thật viên mãn mà Phật đã thân chứng, cũng chính là chân tướng vũ trụ nhân sanh viên mãn tròn đầy, Kinh Hoa Nghiêm đều nói ra hết. Nói xong Kinh Hoa Nghiêm rồi, Thích Ca Mâu Ni Phật biết rõ người thế gian không thể tham dự, không có một người nào có thể lý giải, không những không thể lý giải mà xem cũng không thể xem được, nghe cũng không thể nghe được nên mới xuất định. Xuất định rồi thì Ngài đến Lộc Dã Uyển để độ năm vị Tỳ Kheo, giảng Kinh A Hàm. Kinh A Hàm là kinh tiểu thừa, nói từ nơi căn bản nhất, cũng giống như hiện tại mở lớp học thì trước tiên mở tiểu học. Thế nhưng mục đích của Ngài là mong muốn mọi người đều có thể thấu hiểu cảnh giới của Kinh Hoa Nghiêm, cảnh giới cứu cánh viên mãn, chân thật tuyệt diệu của nhân sanh. Ngài dạy chúng ta hiểu rõ việc này nhưng chúng ta không thể tiếp nhận, chúng ta không hiểu.

Cho nên Phật bồi dưỡng chúng ta từ từ. Mở lớp tiểu học A Hàm 12 năm, sau đó tiếp đến Phương Đẳng. Phương Đẳng thì giống như trung học, Phương Đẳng 8 năm. Sau Phương Đẳng thì nâng cao lên là Bát Nhã, Bát Nhã thì giống như Đại học, thời gian này là dài nhất: 22 năm. Sau cùng là Pháp Hoa, Pháp Hoa cũng là 8 năm. Tổng cộng 49 năm. Các vị thử tưởng tượng xem, trong 49 năm thì kinh Bát Nhã đã giảng 22 năm, mất hết nữa đời người để giảng Bát Nhã, vậy là hiểu rõ Bát Nhã chính là trung tâm của Phật pháp.

Bát Nhã là trí tuệ, chúng ta đem Kinh Bát Nhã mà Phật đã giảng 22 năm này tổng kết lại, tổng quy nạp lại xem Bát Nhã nói cái gì? “Bát Nhã Vô tri, vô sở bất tri, vô tri tựu thị căn bản trí”, chính là vừa rồi chúng ta đã nói: Đại Bát Nhã Quang Minh Vân Vô Tri. Vô tri khởi tác dụng là vô sở bất tri, vô sở bất tri chính là Đại Trí tuệ Quang Minh Vân. Khi Vô tri không khởi tác dụng, thì cái tâm này giống như một tấm kính vậy, trong sạch rõ ràng không nhiễm một trần, tâm phải như tấm kính vậy, tâm phải như nước vậy. Bạn xem chúng ta cúng Phật, đồ cúng Phật thì rất nhiều, nhưng quan trọng nhất chính là nước. Trong nhà chúng ta có một Phật đường, hiện tại có những người ở phòng chung cư không được thuận tiện cho việc thắp hương, phòng thì rất thấp, thắp hương thì trong phòng bị ô nhiễm, người khác ngưởi thấy cũng rất khó chịu. Cho nên có thể không cần thắp hương, cũng có thể không thắp đèn, cũng có thể không cúng các loại hoa, thế nhưng mức độ thấp nhất cũng phải cúng dường một ly nước.

Ý nghĩa của việc cúng nước là gì? Là biểu thị Đại Bát Nhã Quang Minh Vân. Biểu thị tâm của chúng ta phải trong sạch như nước vậy, cúng một ly nước trong biểu thị tâm phải bình đẳng giống như nước, không khởi sóng dậy. Đây chính là căn bản trí, là đại biểu căn bản trí, nước đó không phải để Phật, Bồ Tát uống. Bạn nói tôi cúng Phật một ly nước trong, cúng Phật Bồ Tát thì là sai, không phải vậy, đây là để cho chính chúng ta khi xem thấy ly nước này thì phải nghĩ đến tâm của chúng ta phải trong sạch như nước, phải bình đẳng giống như nước vậy.

Chúng ta nhìn thấy cái ly nước này, liền phải nghĩ đến tâm của ta phải trong sạch như nước, phải bình đẳng như nước.Nước biểu thị cái ý như vậy, đây là Phật dạy cho chúng ta dùng phương pháp này mỗi giờ mỗi phút nhắc nhở chính mình. Đây là nghệ thuật giáo học của Ngài, không cần dùng lời nói, không cần dùng văn tự, để bạn nhìn thấy thì có thể biết được, thể hội ở tâm. Liên quan đến những công cụ này, ở phần sau cùng, ý nghĩa của nước biểu thị, chúng ta còn sẽ giảng giải lại cho mọi người. Cho nên cầu trí tuệ đến nơi đâu mà cầu vậy? Trước tiên cầu Vô tri. Trung Quốc thời xưa cùng giáo học của Phật pháp có rất nhiều chỗ chân thật là không hẹn mà lại gặp nhau, đủ thấy cổ thánh tiên hiền của Trung Quốc thật có trí tuệ cao độ. Khổng Tử, Mạnh Tử cùng Thích Ca Mâu Ni Phật chưa hề gặp mặt nhau, nhưng phương pháp lý luận giáo học của các Ngài có rất nhiều chỗ giống nhau, việc này người xưa chúng ta gọi là “cái thấy của anh hùng đều là như nhau”. Tuy là chưa hề thấy mặt nhau, nhưng cái thấy, cách nghĩ, cách làm rất là hợp nhau.

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

Biên tập: Phật tử Diệu Hiền

(Còn tiếp)

Tác giả bài viết: Cẩn dịch: Vọng Tây cư sĩ

Nguồn tin: TinhKhongPhapNgu.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 26


Hôm nayHôm nay : 298

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 250291

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10028058

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?