Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 19 - 20)

Thứ hai - 24/07/2017 11:42

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Cần Cù, Tiết Kiệm

Chúng ta tiếp tục xem câu thứ tám. Câu này chủ yếu thể hiện rõ việc trị quốc, tầm quan trọng của việc cần kiệm. Câu trước là để cho chúng ta cảnh giác sự tham muốn, câu này là cần cù tiết kiệm.

Người xưa họ biết được quốc gia xã hội là một thể cùng chung sống, cùng tồn tại với nhau, luôn cần có nhau. Nếu một người nông dân không trồng trọt thì có thể có người phải chịu đói khát, sẽ đình trệ việc sản xuất. Vì vậy, mỗi một ngành nghề thật sự đều rất tôn quý, ngành nghề nào cũng có người xuất sắc, nhất là trong cả nền văn hóa mấy ngàn năm của chúng ta đặc biệt tôn trọng người nông dân. Lúc còn nhỏ, chúng tôi thường đọc: “Một bát cháo, một hạt cơm, nên nghĩ kiếm được không dễ”, “ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Vì vậy, đối với người nông dân chúng ta phải biết ơn sự gian lao vất vả của họ.

Thời xưa, nhất là những quan chức triều đình, họ nhìn thấy chuyện canh tác không thể thực hiện thì biết sẽ nguy hại đến vấn đề sống còn của người dân. Vào năm Trinh Quán thứ năm, thái tử con của Đường Thái Tông vừa tròn hai mươi tuổi phải tiến hành lễ đội mũ. Đây là chuyện đại sự của quốc gia, thái tử phải làm lễ đội mũ. Các quan đại thần nói, vào tháng hai là thích hợp tiến hành cho buổi lễ đội mũ này, nếu như làm lễ đội mũ cho thái tử thì nhất định mời thật nhiều dân chúng đến giúp đỡ. Ngay lập tức Thái tông liền nói, tháng hai là đúng vào mùa xuân, nông dân bận lo mùa vụ nên không thể nhờ vả người dân trong lúc họ bận lo mùa vụ được. Trồng trọt phải có thời tiết, sai thời gian thì có thể rất khó thu hoạch. Hoàng đế Thái Tông chẳng đơn giản chút nào, luôn nghĩ đến cuộc sống của người dân, không lo cho lễ đội mũ của con mình trước. “Được rồi, chuyển sang tháng mười đi, tháng hai không thể được”. Tháng mười là mùa đông, mùa vụ đã thu hoạch xong sẽ không ảnh hưởng đến sinh hoạt mùa vụ của người dân. Các vị đại thần liền nói: “Đây là ngày tốt do nhà tướng số đã tính ra. Thời gian tốt nếu thay đổi thì sẽ không hay”. Thái Tông nói: “Việc ta làm tương ưng với nhân nghĩa đạo đức thì lúc nào mà chẳng kiết tường, đâu nhất định phải nghe nhà tướng số mới tốt chứ. Ta không quan tâm đến người dân, đi ngược lại với hạnh phúc lợi ích của họ, như vậy mới là không kiết tường”. Thái Tông rất trí tuệ, thông suốt đạo lý sâu sắc. Tâm còn chưa thiện, phong thủy có tốt thế nào đi nữa cũng vô ích. “Tướng do tâm sanh”, kiết hung họa phước là tùy theo tâm của mình chiêu cảm. Từ câu chuyện này của Thái Tông, chúng ta có thể nhìn thấy vua vô cùng quan tâm đến vấn đề đói rét của người dân.

Đời nhà Hán có một vị Tể tướng tên là Bính Cát. Vị này không đơn giản. Lúc đó Hán Vũ Đế đang tin tưởng một số thầy phù thủy nên giết hại họ hàng thân tộc của mình. Con người có lúc mất bình tĩnh, uy quyền càng cao, tai họa có thể càng lớn. Lúc đó, cháu trai của Vũ Đế - Hán Tuyên Đế (sau này kế nghiệp ông) cũng bị giam ở trong ngục. Bính Cát lúc đó làm quan giám ngục, kết quả rất vi diệu. Có người nói trong cái ngục đó có chân mạng đế vương. Mọi người không tin. Những thứ mà mắt của con người nhìn không thấy thì quá nhiều. Các vị có thể đi đến nơi tế lễ, nơi tế lễ có một cột khí, đó là nơi để tế trời. Cái cột khí đó, các vị nhìn không thấy, sờ vào rất cứng cáp. Ở Đại Lục cũng có một chỗ. Ở Hải Nam Bác Ngao, rất nhiều diễn đàn chính trị quốc tế, hội nghị đỉnh cao đều đến Bác Ngao. Cột khí ở nơi đó cũng rất chắc, các vị đi vào bên trong đó có cảm giác từ trường của một cột khí. Cho nên ở giữa trời đất, những thứ chúng ta không biết là quá nhiều. Con người không nên ngạo mạn, những thứ không nhìn thấy cho là không có. Lúc đó có một vị quan phán đoán ở nơi đó có chân mạng của đế vương. Hán Vũ Đế lúc đó không được bình tĩnh, liền ra lệnh giết hết những người ở trong ngục. Sau đó thì Bính Cát liều chết vào khuyên can, bảo vệ cho Hán Tuyên Đế, thức tỉnh Hán Vũ Đế chấm dứt việc giết hại người thân của mình. Nhưng Bính Cát chưa bao giờ nhắc lại câu chuyện này với người nào, kể cả khi Hán Tuyên Đế lên làm vua, Bính Cát một lời cũng không nói. Điều này thật đáng quý. Đối với nhà vua, ông có ơn cứu mạng, nhưng trung thần cảm thấy những việc như vậy phải nên làm, nhất định không để ở trong tâm, càng không thể đi kể công lao. Sau này, hình như là Hán Tuyên Đế tự phát hiện ra. Bính Cát nhờ vào đức hạnh của mình cũng đã làm đến quan tể tướng.

Có một hôm, quan tể tướng đi tuần tra, đúng lúc có một vị quan địa phương chạy đến nói: “Đàng kia đang đánh nhau, có dùng binh khí, vậy phải làm sao?”. Bính cát nói: “Quan ở địa phương có xử lý chưa?”. “Dạ có, đang xử lý!”. Bính Cát nhanh chóng đi đến, không tiếp tục hỏi thêm chuyện nữa. Đi được một lúc, nhìn thấy bên đường có một con trâu đang ở đó thở dốc, giống như là sắp đứt hơi vậy. Kết quả là Bính Cát cảm thấy không yên tâm, liền nhanh chóng đi đến để biết rõ rốt cuộc con trâu này bị làm sao? Sao đó thì biết con trâu này rất bướng bỉnh, bị chủ của nó rượt đánh, đã chạy rất xa, thở không ra hơi, nằm ở chỗ đó rất khó chịu. Bính Cát sau khi hiểu ra: “Ồ, được rồi, được rồi, không sao cả”, liền nhanh chóng đi tiếp. Những vị quan đi phía sau cùng với ông nhìn thấy hai việc này thì có chút băn khoăn. Khổng Phu Tử là: “Kiến nhân bất kiến mã”. Chuồng ngựa ở nhà của Khổng Tử bị cháy, phản ứng đầu tiên của Khổng Tử là “có ai bị thương không?”. Mọi người nên học hỏi phong thái của Thánh nhân, nên quay trở lại với bối cảnh của thời đại đó.

Thời đó mỗi người có một con ngựa thì giống như là có một chiếc xe hơi BMW vậy. Khái niệm này mọi người nên biết, có thể bằng thu nhập trong mấy năm. Khi con vật quý giá nhất của bạn dùng để cưỡi bị thiêu cháy mất, phản ứng đầu tiên của bạn là gì? “Ôi tiêu tan hết rồi” đúng không? Các vị xem, Khổng Tử nhất định không bị vật chất bên ngoài làm liên lụy. Ý nghĩ đầu tiên là nhân ái: “Có ai bị thương không?”. Khổng Tử là hỏi thăm người, không hỏi đến ngựa.

“Thưa tể tướng, vì sao Ngài thăm trâu mà không hỏi thăm người?”. Mọi người chú ý xem, cùng với đại thần Thánh Hiền ở xung quanh, có lúc nhìn không rõ ràng, còn bị hiểu lầm. Vì vậy, mộ hiền đương mộ kỳ tâm”, không nên nhìn hình tướng bên ngoài. Tể tướng vì sao gặp phải chuyện người với người xảy ra xung đột, lúc nguy hiểm đến tính mạng mà không đi xử lý? Bởi vì vị quan của địa phương đã biết rồi, ông ấy đã đi xử lý. Giải quyết việc này là vị quan huyện, đột nhiên vị quan tổng lý của quốc gia đi ngang, các vị xem sẽ làm chấn động dữ dội không? Rất nhiều người có thể tự nhiên bị mất chức hoặc bị khiển trách. “Các vị xem, chuyện nhỏ như vậy mà cũng để tể tướng giải quyết, vậy các vị đang làm gì chứ?”.

Vì vậy, trong việc phân chia trách nhiệm quản lý, quan tể tướng không thể thường xuyên xuống quản lý công việc của thị trấn nhỏ, như vậy thì sẽ loạn, sẽ làm cho nhiều người hoang mang. Họ rất thông suốt phân chia công việc, tận tâm với trách nhiệm. Không phải chúng ta ở địa vị cao, có lúc thì quản lý chỗ này, có lúc thì quản lý chỗ khác, như vậy sẽ làm cho cấp dưới rối loạn lên. Đối với cấp dưới phải phân chia trách nhiệm, đều phải tôn trọng, không nên tăng thêm gánh nặng cho họ, tăng thêm cho họ sự hỗn loạn về nhân sự, như vậy là không được.

“Quan tể tướng, vì sao Ngài lại đặc biệt quan tâm đến con trâu vậy?”. Ông nói: Con trâu này có mối quan hệ lâu dài với người dân sau này có cơm ăn hay không. Ta nhìn thấy con trâu này hình như bị bệnh, nếu như nó bị bệnh dịch trâu bò, lại lây lan ra tất cả những con trâu khác chết hết thì dân chúng lấy gì để ăn?”. Rất khẩn trương, nhanh chóng xem thử có phải là bị bệnh hay không, có bị dịch trâu bò không? Nếu như có thì phải nhanh chóng xử lý. Giống như lúc có dịch bệnh SARS vậy, phải xử lý khẩn cấp. Vì vậy các vị xem, Bính Cát cùng với Khổng Lão Phu Tử giống nhau về tâm nhân từ, nhưng mà trên hình dạng và cử chỉ có lúc bị nhìn sai.

Chúng ta xem đến chỗ này: “Nhất phu bất canh, hoặc thụ chi cơ”. Thời xưa, những vị quan chức đặc biệt quan tâm sâu sắc đến cuộc sống của người dân, cho nên trong khoảng thời gian trồng trọt, nhất định hết sức cố gắng tránh làm phiền người dân để họ không phải bỏ lỡ thời tiết mùa vụ.

Nhất nữ bất chức, hoặc thụ chi hàn”. Một người phụ nữ không đan dệt thì có khả năng thiếu quần áo, có người phải bị giá rét lạnh cóng.

Người thời xưa, cho dù làm bất cứ ngành nghề nào họ rất thích thú, càng làm thì càng thích, làm càng nhiều thì họ cảm thấy càng nhiều người được lợi ích.

Tôi nhớ lúc còn nhỏ, đi ăn cơm ở một quán ăn gần nhà. Chúng tôi ăn rất vui vẻ, ông chủ quán cũng cười vui vẻ. Tôi nói với ông: “Ồ! Món bánh bao này làm rất ngon”. Ông ấy rất thích. Hình như những người làm kinh doanh đều không nở được nụ cười. Các vị khen họ món này làm ngon, món kia làm ngon, thì họ “được rồi, mua nhiều là tốt rồi!”, họ không hạnh phúc với giá trị của họ, chỉ dán mắt quán sát tiền, làm mất đi niềm vui trong công việc. Do đó, con người thật sự là rất oan uổng, đều quên đi ý nghĩa bản chất cuộc đời, theo đuổi sự phù phiếm hư vinh, không có niềm vui tinh thần.

Sanh chi hữu thời”, sản xuất thì phải có thời tiết.

Nhi dụng chi vô độ”, lúc sử dụng thì không có sự tiết độ.

Tắc vật lực tất khuất”. Những nhân lực, vật lực này cuối cùng chắc chắn sẽ bị cạn kiệt, không còn đủ.

Cổ chi trị thiên hạ”. Thời xưa trị vì thiên hạ, đối với những chi tiết này vô cùng quan tâm coi trọng.

Chí tiêm chí tất dã”, họ không lãng phí thực vật, không lãng phí nhân lực.

Cố kỳ dĩ súc tích túc thị”, họ không lãng phí bừa bãi, dần dần tích trữ lại. Vừa tích trữ quần áo, thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt, bỗng nhiên xảy ra đại tai họa thì họ có thể ứng phó nhanh chóng như trở bàn tay, bởi vì đã có sự chuẩn bị kỹ rồi.

Thời xưa, thông thường mà nói, lương thực phải chuẩn bị chín năm, nghĩa là chín năm đều không có thu hoạch, nhưng quốc gia xã hội vẫn có thể tiếp tục sống. Thời xưa đều là đề phòng rất cẩn thận. “Phàm việc gì có chuẩn bị sẵn mới nên”, chuẩn bị rất nhiều cái gọi là cách thức đối phó, không thể chỉ nhìn thấy trước mắt.

Trong “Đại Học” có một đoạn giáo huấn rất hay: “Sanh chi giả chúng, thực chi giả quả, vi chi giả tật, dụng chi giả thư, tắc tài hằng túc hỷ”.

“Sanh tài hữu đại đạo”. Nhưng hiện nay, chúng ta hãy bình lặng lại xem, quốc gia cũng tốt, gia đình cũng tốt, hiện nay tiền có đủ hay không? Rất nhiều quốc gia đã đưa vào trong công trái, không biết để đến đời con đời cháu nào, vậy thì thế hệ con cháu sau này sống ra sao? Tất cả nợ nần họ gây ra đều phải dồn lên thân con cháu. Điều này là thật! Không thể nói tổ tiên đã làm chuyện hoang đường này, từ 5.000 năm nay tổ tiên của chúng ta đâu có đời nào có người để lại nợ nần cho con cháu. Các vị xem thật là tệ, ảnh hưởng xấu của văn hóa phương Tây. Người phương Tây tiêu xài trước, trả nợ sau, rốt cuộc là không kiểm soát được chi tiêu căn bản. Các vị xem, tiêu phí vô cùng xa xỉ, dẫn đầu là nước Mỹ. Xem rất nhiều phim của Hollywood, rốt cuộc là mắc nợ quá nhiều nên nước Mỹ tự in thêm tiền. Tự in tiền tự trả tiền, thật sự là phục họ. Sự việc như vậy mà họ cũng làm được, không có trách nhiệm gì cả. Bản thân của các vị tiêu tiền thì các vị phải trả, vẫn tự in tiền để trả. Không sao! Được rồi, hiện nay nước Mỹ rất tích cực học văn hóa Trung Hoa, chúng ta cho họ thêm thời gian. Trong con mắt người Hoa của chúng ta, mắt của người Hoa gọi là rất khó nói, là vô lại, không có trách nhiệm. Vì sao tôi dám nói ra? Bởi vì người Mỹ có một điểm tốt là có thể mắng họ, họ vẫn có cái điểm tốt này, là thật đấy! Họ sẽ bất đồng với bạn? Không có đâu, nhưng thật sự là phải nên tiếp thu. Ở trên thế giới, địa vị cao như vậy phải dẫn đầu cho đúng, dẫn đầu cho tốt, như vậy mới xứng đáng là thân thận tôn quý, nếu không thì mất uy tín. Đã mất uy tín thì rất khó có lại được sự tôn trọng của người khác.

Các vị xem, trong gia đình hiện nay cũng như vậy, tiêu xài trước, kết quả là rất nhiều gia đình luôn bị mắc nợ. Vay tiền mua nhà, vay tiền mua xe, rất nhiều khoản vay, cả một đời thở không ra hơi, phải sống trong nợ nần. Hiện nay các vị ở trong thành phố lớn, có thường xuyên nhìn thấy mười mấy người trong gia đình quây quần bên nhau ngắm trăng hay không? Tay cầm quạt, lắc lư trên ghế mây ăn đậu phộng, lòng thanh thản thoải mái, có thấy qua hay chưa? Chưa có thấy. Con người hiện nay không được trải qua ngày tháng như vậy.

Chủ nhật tuần trước, tôi lái xe được khoảng mười phút đến một công viên rất lớn, rất đẹp. Đất nước Malaysia bao la rộng lớn, công viên như vậy rất đẹp, nhưng đi vào không nhìn thấy ai, chỉ có một số công nhân đang ở đó ngủ say sưa. Thật sự có phước mà không biết hưởng! Cây cối xanh um rậm rạp như vậy, mùi hương tinh khiết lan tỏa mà không có ai đến. Toàn bộ bị bao vây ở chỗ nào mọi người có biết không? Bị bao vây bởi những tòa nhà chọc trời. Rốt cuộc thì tôi cũng biết được, vì sao đô thị được gọi là một rừng cây. Từng tầng từng tầng tòa nhà cao chọc trời giống như cây ở trong rừng sâu vậy, các vị đi vào trong đó thì không phân biệt được đông - tây - nam - bắc. Bị bao vây trong rừng tòa nhà chọc trời này mà truy cầu danh lợi, không biết cách sống qua ngày. Họ chẳng biết được cái gì gọi là chân đứng trên đất vàng cỏ xanh, sau đó thì những hạt sương ở trên cỏ xanh thấm ướt gót chân của các vị cùng với trời đất hòa thành một thể. Vì vậy, con người hiện nay đều cách biệt với thiên nhiên, cuối cùng là bị quá nhiều bệnh. Tách xa với tự nhiên, mỗi ngày tiếp xúc với cái gì? Những tia bức xạ này, tiếp xúc với những thiết bị điện thì làm gì có cái lý không bị bệnh. Cho nên, vẫn là phải quay trở về với tự nhiên. Điều này lại không dùng tiền.

Các vị xem, con người hiện nay không dùng tiền thì tốt nhưng lại không muốn, còn những thứ đắt tiền thì lại lao vào. Vì vậy, những người ở trong rừng tòa nhà chọc trời này phải bình tĩnh. Trong rừng tòa nhà chọc trời này lại bùng nổ tư tưởng, bùng nổ tri thức, phải phán đoán những tư tưởng, tri thức này có chính xác hay không? Cần cù tiết kiệm mới là chính xác. Tiêu xài, thường xuyên ra phố mua thật nhiều hàng khuyến mãi. Suýt nữa là tôi nói không ra cái từ này. Hình như rất lâu chưa có đi, nhanh lên, nhanh lên mua cái này rẻ, rất là rẻ”, rốt cuộc là cái này rẻ cũng mua, cái kia rẻ cũng mua, trong nhà chất một đống đồ không dùng đến, cuối cùng có rẻ không? Đồ đạc bị hư hết. Vì vậy, kích thích tiêu dùng thật sự không đúng chỗ. Con người nên biết đủ, con người nên liệu cơm gắp mắm, thì việc sử dụng vật chất trong gia đình và xã hội mới có thể cân bằng.

 “Sanh chi chư chúng”, người sản xuất càng nhiều càng tốt, mỗi người đều tận tâm tận lực để trả công cho xã hội. “Sanh chi chư chúng”, bao gồm những gì? Quốc gia phải có chính sách, không nên để cho người dân sống lang thang (nghĩa là không có việc làm, tỉ lệ thất nghiệp đặc biệt nhiều). Có thể giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống, tạo ra nhiều cơ hội làm việc chính là “sanh chi chư chúng”.

Các vị xem, lời nói này ở các quốc gia hiện nay đều là vấn đề nghiêm trọng. Họ phải thực hiện theo điều này thì mới có thể cải thiện được, nhưng trên thực tế phải để người dân nỗ lực phục vụ. Ngoài việc phải tạo một số cơ hội làm việc ra, phải phối hợp những chính sách tốt đẹp của quốc gia, và đừng để người dân phải mơ mộng viễn vông. Không nên để người dân nhàn hạ, phóng túng, sẽ không cần cù siêng năng, có cơ hội thì họ cũng không chịu đi làm việc, sẽ phiền phức. Họ sẽ thích ăn, lười biếng làm việc, bởi vì họ đã hưởng thụ quen rồi. Gia đình phải có trách nhiệm. Người trẻ vẫn chưa ra công sức thì đã sống an nhàn. Lười nhác sẽ rất phiền phức, sau này họ làm sao mà làm cha, làm sao lo liệu cho gia đình? Thậm chí những người trẻ đều cho là tìm việc làm thì phải “tiền nhiều, việc ít, ở gần nhà, quyền cao, chức trọng, trách nhiệm nhẹ”, ở nơi đó tác oai tác quái mà không cần trách nhiệm. Ngủ thì ngủ đến tận trưa, còn tiền thì muốn đếm đến mỏi cả tay. Đó là nằm mộng, làm gì có những việc như vậy, đâu có chuyện cái bánh từ trên trời rơi xuống chứ! Chúng ta có câu tục ngữ nói: “Thiên hạ không có bữa ăn không phải trả tiền”. Cho nên, sự nhận biết phải từ nơi nhân tâm mà giải quyết, nếu không thì có rất nhiều vấn đề giải quyết không xong. Đều là vấn đề về giáo dục.

Thực chi giả quả”, ăn uống không nên quá độ, không nên hoang phí, nếu không thì sẽ lãng phí. Còn một điểm nữa là từ việc quản lý của quốc gia, từ việc quản lý của đoàn thể mà nói, chính là quốc gia không nên có quá nhiều công chức. Rất nhiều người không làm việc mà vẫn lãnh lương, quốc gia gánh vác vô cùng nặng. Đơn vị này vốn chỉ cần hai - ba người là được rồi, nhưng họ nói phải có năm người, cuối cùng là hai người ngồi không ăn bổng lộc của quốc gia. Thậm chí, hiện nay trong dự toán có một hiện tượng không thể chấp nhận được. Thí dụ như nói dự toán năm ở đơn vị này là hai triệu, kết quả chỉ tiêu dùng có một triệu năm trăm ngàn, nhưng sang năm lại đưa tiếp cho họ hai triệu, năm trăm ngàn này thì tùy tiện cho họ tiêu xài. Yểu mạng! Con người hiện nay thật sự không biết nhân quả báo ứng, việc gì cũng dám làm. Đó là tiền xương máu của nhân dân cả nước, các vị tiêu xài như vậy, tôi thấy kiếp sau làm trâu làm ngựa chắc chắn cũng trả không xong. Vẫn là vấn đề của giáo dục. Những hiện tượng này, các vị không thông qua vấn đề giáo dục thì họ cho xã hội là như vậy đó, mỗi người đều làm như vậy. Họ cũng cho đó là lẽ thường, thậm chí còn cho là “lợi hại, tôi đã biết cách làm những chiêu này!”. Cho nên: “Thực chi giả quả”, nhân sự phải nên đơn giản gọn nhẹ, không nên ăn không ngồi rồi.

Vi chi giả tật”, điều này từ nông nghiệp mà nói. Chữ “vi” này chính là thời gian nên canh tác thì phải nhanh chóng tranh thủ thời tiết này, không nên bỏ lỡ thời vụ, nên gọi là “vi chi giả tật”. Từ thương nghiệp mà nói đều có một số cơ hội về thương nghiệp, phải nắm bắt thời cơ làm ăn, nỗ lực mà làm, đi phục vụ xã hội, “vi chi giả tật”.

Dụng chi giả thư”. “Thư”, điều quan trọng nhất vẫn là liệu cơm gắp mắm. Hiện nay dự thảo tài chính của nhiều quốc gia dân chủ, tất cả đều là nợ nần của một năm, luôn luôn mắc nợ. Sau đó, món nợ lúc đầu cũng không trả. Điều này nói rõ là thế hệ sau sẽ tiếp nhận món nợ này. Điều này không được thỏa đáng! Thật sự thời đại này rất cần lương tri đạo đức. Vì sao làm những chuyện hoang đường như vậy mà chẳng có ai dám đứng lên nói: “Làm như vậy là sai rồi, mấy ngàn năm đến nay có ai mà tiêu tiền của con cháu thế hệ sau này”. Đặc biệt là người Hoa chúng ta, hiếu là cái gốc. Cha mẹ cùng với con cái là một thể không thể tách rời, tổ tiên cùng với con cháu đời sau không thể tách rời. Tập tục này nhất định không thể xuất hiện trong xã hội người Hoa của chúng ta, thậm chí tiếp tục thêm nữa. Phải dẹp bỏ sự hỗn loạn, lập lại sự ổn định, cũng là cho thế giới một phương hướng, một mục tiêu chính xác.

Tốt rồi! Điều này là nhắc đến “sanh tài hữu đại đạo”. Chúng ta xem câu tiếp theo.

Nhân tiện xin giao lưu với mọi người một chút. Thí dụ các vị có nhiều của cải, vô cùng vui vẻ đi nộp thuế, vậy là các vị lấy tài sản của các vị đi cúng dường cho nhân dân cả nước, tâm lượng của các vị rất lớn. Lượng lớn thì phước sẽ lớn. Có những nếp sống đã trở thành tính toán rất chuẩn, sợ bị thua lỗ, không muốn bỏ thêm tiền cho đất nước, thậm chí còn tìm cách trốn thuế. Điều này là không có trí tuệ. Trốn thuế, nên đóng hay là phải bị đóng, cuối cùng các vị mắc nợ tiền của ai? Mắc nợ tiền của nhân dân cả nước. Cái lý này nghĩ thông rồi thì vui vẻ mà nộp thuế phải không? Mấy chục triệu người, tâm lượng của các vị lớn như vậy. Thời đại ngày nay không nghĩ thông suốt những đạo lý này. “Quân tử vui vẻ làm quân tử, tiểu nhân oan uổng làm tiểu nhân”. Các vị nói: “Những vị công chức không tận tâm tận lực hết lòng với nhiệm vụ, món tiền nợ là mồ hôi nước mắt của người dân cả nước”. Hiểu được cái đạo lý này rồi thì đâu có vị viên chức nào có thể nói là không chăm chỉ nỗ lực chứ? Cho nên vẫn là phải giáo dục.

Chúng ta xem tiếp câu: Tu thân - trị quốc không gì quan trọng hơn việc tiết chế dục vọng”.

“Lễ ký” có nói: “Dục vọng không thể phóng túng”. Nhìn khắp hết những lãnh đạo có nước có nhà, gặt được thành công không ai không nhờ vào sự cần cù tiết kiệm, những người thất bại không ai không vì xa xỉ, lãng phí. Người cần kiệm tiết chế dục vọng, người xa xỉ phóng túng dục vọng. Người phóng túng dục vọng thì nguy cấp, người tiết chế dục vọng thì an toàn.

Chúng ta đọc đến đoạn này liền hiểu ngay mấu chốt của việc thịnh suy trong một gia đình, một quốc gia, đoàn thể. Nếu cần kiệm thì hưng, xa xỉ thì nhất định suy bại. Vì vậy, đoạn văn vừa mở đầu là nói đến phải “tu thân - trị quốc”. Tu thân được tốt, quản lý đất nước được tốt quan trọng nhất chẳng gì bằng phải tiết dục, tiết chế dục vọng.

Chúng ta nhìn thấy chữ “dục” này liền nghĩ đến “dục tợ vực sâu”, “dục vọng khó thỏa mãn”, giống một cái hang không đáy vậy, không thể lắp đầy. Đã từng có rất nhiều thành phần trí thức nói đến những lời giáo huấn liên quan với việc tri túc, trong những lời giáo huấn đó thật sự là lòng ham muốn của con người không thể thỏa mãn được. Khi con người không có tiền đều nghĩ: “Ây da, có thể cho ta ba bữa ăn no thì ta đã mãn nguyện rồi”. Rốt cuộc, một ngày có ba bữa ăn được no rồi tiếp theo liền nghĩ: “Có thể cho ta một ngôi nhà tiện nghi để ở, cuộc đời này của tôi chẳng cầu điều gì nữa”. Sau đó thì có nhà để ở rồi, lại khấn với ông trời: “Chỉ cần ông cho con một chiếc xe hơi đẹp, con sẽ không đặt thêm điều kiện với ông nữa”. Cuối cùng thì xe hơi cũng đã có, liền nghĩ: “Chỉ cần ông cho con làm một chức quan nhỏ nhỏ là được rồi”. Cuối cùng: “Chỉ cần ông cho con làm hoàng đế”. Các vị xem, trong lịch sử có những cuộc tạo phản vốn là của người nông dân mà thôi, về sau quyền lực dục vọng càng lúc càng lớn nên phản quốc. Cho nên, dục vọng của con người quá đáng sợ, vì vậy phải tiết dục, phải tiết chế. Con người không hạ công phu trong việc sửa chữa hành vi, trong việc tiết dục, thì dục vọng càng lúc sẽ càng lớn. Mọi người bắt đầu hạ thủ công phu thì sẽ không còn nữa, dần dần tiền cũng không thể mê hoặc được, đồ ăn cũng không thể lay động được, nữ sắc cũng không thể lay chuyển được, như như bất động trước sự dụ dỗ mê hoặc. Có nâng cao sự công phu này hay không? Các vị nói ai áp dụng tiết chế dục vọng? Không đơn giản đâu.

Các vị mới thử nghĩ xem, lúc chúng ta bảy - tám tuổi thì dục vọng như thế nào, bây giờ thì như thế nào? Hiện nay, chúng ta tiến bộ hay thoái lui? Không tiết dục thì chỉ có thoái lui, chỉ có đọa lạc về tâm linh. Chúng ta không nên cho là: “Ta đã lớn rồi, đều hiểu biết chuyện mà”. Sự phán đoán này không đủ toàn diện.

Nhà khoa học có một thực nghiệm đáng để mọi người suy nghĩ. Một người lúc khoảng một - hai tuổi, trung bình một ngày cười 180 lần. Sau khi trưởng thành, bình quân một ngày cười bảy lần. Vấn đề xảy ra ở đâu? Càng cố gắng, càng sống thì càng cười không nổi. Vì sao vậy?  Mục đích cố gắng là gì? Mọi người đều đã trưởng thành hết rồi, mục đích nỗ lực của cuộc đời chúng ta là cái gì? Hạnh phúc, vui vẻ à? Làm sao mà càng nỗ lực thì cuối cùng đến nụ cười cũng cười không nổi nữa vậy? Phương hướng này có chút kỳ lạ. Có đi sai đường hay không? Phải nên điều chỉnh lại một chút. Cái gốc là tâm thái bị sai rồi. Tâm thái đều là muốn thỏa mãn dục vọng, rốt cuộc là dục vọng càng lúc càng nhiều, không thể thỏa mãn được. Cầu không được thì sự đau khổ càng lúc càng nhiều. Khi đã nghĩ thông rồi thì tiết dục, vô cầu, nụ cười lập tức xuất hiện trở lại. Đợi đến khi mọi người một ngày cười 180 lần, nhất định phải đến thông báo nhé, gọi là trở lại trạng thái ban đầu. Đây mới là niềm vui chân thật.

Các vị nhìn xem, đứa trẻ lúc nào cũng cười ha ha ha… thật sung sướng! Con người thật sự lúc nào cũng mang tâm kính yêu, có lòng cảm ơn, thì một ngày có thể cười hơn 100 lần, ngay cả lúc bạn ngủ cũng sẽ mỉm cười. Cho nên sự tiết dục này là vô cùng quan trọng. Hơn nữa, có thể buông bỏ cái ngã tham xuống, luôn luôn vì mọi người, luôn nghĩ đến những người có duyên, vì mọi người phục vụ. Cho đi thì có phước hơn nhận, lấy việc giúp đỡ người khác làm niềm vui. Tất cả những nỗi khổ đều đến từ việc chúng ta quá xem trọng cái tự ngã này. Muốn không được thì liền oán hận, phiền não. Con người nên loại bỏ phiền não. “Muốn diệt cây độc, phải chặt tận rễ”, không nên ngắt từng lá một, rất là phiền phức, trực tiếp chặt đứt bộ rễ. Rễ chính là tự ngã, tự tư. Sau khi chặt đứt rồi thì thân tâm lập tức nhẹ nhàng, yên ổn rất nhiều. Được rồi, về nhà làm thử xem, chặt đứt nó, xem cảnh giới của thân tâm có thể nhẹ nhàng yên ổn không?

“Đại Học” dạy chúng ta như vậy, “Tả Truyện” cũng nói đến dục vọng không thể phóng túng. Những đạo lý này mọi người đều biết, nhất định phải thực hiện. Thực hiện như thế nào? Tiến dần từng bước, nhưng nhất định phải xác định rõ ràng, nếu không thì đạo lý hiểu rất nhiều nhưng không áp dụng được một điều vào trong cuộc sống.

Thí dụ như việc tham ngủ. Một ngày ngủ tám giờ, đó là giấc ngủ của trẻ nhỏ. Em bé có lúc phải ngủ mười giờ đồng hồ, trẻ em ngủ khoảng tám giờ đồng hồ. Chúng ta là người lớn nên ngủ khoảng bảy giờ đồng hồ, dần dần đời sống tinh thần của chúng ta càng nâng cao, phiền não dần ít đi, năng lượng của các vị tiêu hao cũng ít lại, nhu cầu ăn ngủ của các vị lại càng ít hơn. Cho nên, rất nhiều người tu dưỡng rất tốt, một ngày ngủ nghỉ năm giờ đồng hồ là được rồi. Tiêu hao năng lượng của họ ít, nằm nghỉ một chút là hồi phục rồi.

Tinh mãn bất tư dâm, khí mãn bất tư thực, thần mãn bất tư thùy”. Các vị xem, con người tinh thần sung mãn rồi không có nhu cầu ngủ nghỉ, khí đã đầy đủ rồi thì không có nhu cầu ăn cơm. Xin lỗi là cảnh giới của tôi chưa được như vậy, tôi chỉ có thể giảng những câu này cho mọi người nghe, nhưng mọi người có thể nỗ lực theo phương hướng này.

Chúng ta xem Sư ông của chúng ta, thầy Lý Bỉnh Nam. Lượng công việc của Sư ông bằng mấy người làm, hơn nữa một ngày ăn một bữa. Đây là tấm gương tốt cho chúng ta, vẫn là tinh thần sảng khoái. Các vị nhìn xem, tấm hình của Ngài lúc chín mươi mấy tuổi, ánh mắt sáng suốt có thần. Con người chúng ta ba mươi mấy tuổi thường là uể oải yếu ớt, nhìn thấy rất hổ thẹn. Biết hổ thẹn là biểu hiện của việc tiến gần đến lòng dũng cảm, tiếp tục nỗ lực. Cho nên, chúng ta có thể ngủ quá nhiều rồi. Được rồi, tuần này thức dậy sớm hơn mười lăm phút, cố gắng đấu tranh với tập khí.

Các vị xem thử dùng cách nào để gọi bạn thức dậy có hiệu quả nhất thì các vị nên dùng cách đó. Thí dụ như, các vị vừa nghe được Sư trưởng giảng bài thì các vị liền nhanh chóng thức dậy, vậy thì các vị cài đặt điện thoại thành giọng của Sư trưởng giảng bài. Nhất định nên dùng cách hữu hiệu nhất của chính mình là rất tốt. Tu hành phải nên dựa vào cá nhân, phải thật làm, phải dùng phương pháp đối trị. Nếu như không hạ quyết tâm, một tập khí ba mươi năm có thể vẫn cứ y như cũ, vậy là lãng phí thời gian ba mươi năm, đạo ngày một giảm. Người tu hành chân thật thì tập khí này càng lúc càng giảm đi, càng lúc càng mất đi, như vậy mới đúng.

Ngoài việc ngủ nghỉ ra, rất nhiều tập khí, ham muốn đều dần dần nhợt lạt, ít lại. Nhưng không nên một lần dùng lực quá sức. Vốn là ngủ nghỉ bảy giờ đồng hồ, “được rồi, ngày mai ngủ năm giờ”, sau đó khi đi làm thì cả người mộng thấy Chu Công, công việc làm rối loạn lung tung, cuối cùng thì tự mình phải thốt lên: Không được rồi”, liền bỏ cuộc nửa đường. Vẫn là tiến dần từng bước. Trừ khi các vị thật sự nắm chắc, nếu không thì vẫn là tuần tự bước sẽ tương đối thích hợp, bởi vì sức khỏe của chúng ta cần phải có một quá trình thích ứng.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 20

Đương nhiên đối với bản thân mình phải yêu cầu không buông lơi, đối với những người ở bên cạnh mình thì không nên yêu cầu quá nghiêm khắc. “Nghiêm khắc với bản thân mình, rộng lòng với người”. Thí dụ như nói, chúng ta đối với những người xung quanh rất nghiêm khắc, họ nhìn thấy các vị sẽ: “Ồ, chạy nhanh thôi! Lại nói anh không được ăn món này, không được ăn món kia, nhanh chóng không nên ngồi cùng bàn với anh ấy”. Mọi người nhìn thấy các vị đều sợ hãi thì làm sao các vị mang những lời giáo huấn tốt đẹp này cho họ được. Phải hằng thuận chúng sanh, điều chỉnh tình người. Nghiêm khắc với chính mình thì đức hạnh của mình mới nhanh chóng được nâng cao, thì những dục vọng này buông bỏ được càng nhanh, từ trong tâm mọi người đều khâm phục bạn. Các vị không nên yêu cầu họ, khống chế họ, dần dần họ sẽ bị các vị cảm hóa, đó không phải là tự nhiên họ đã khâm phục các vị sao.

Bước tiếp theo là thay đổi. Nếu các vị cưỡng ép, sự khống chế dục vọng này gây ra sự đau khổ cho người khác thì kết quả ngược lại. Cho nên bản thân không nên buông thả theo dục vọng, phải biết tiết chế dục vọng. Nhưng đối với mọi người có thể bao dung, không nên yêu cầu quá đáng, nên dùng đức hạnh thực sự của các vị thì sẽ tự động cảm động, cảm hóa được những người xung quanh, như vậy mới đúng.

Chánh kỷ nhi bất cầu ư nhân, tắc vô oán”. Không làm cho mình trở nên chân chánh mà yêu cầu người chân chánh thì chắc chắn sẽ có nhiều oán hận.

Lịch quán hữu gia hữu quốc”, những từ hữu gia, hữu quốc này họ có thể hưng thạnh, chính là “kỳ đắc chi dã”, gia đình, quốc gia thịnh vượng.

Mạc bất giai ư cần kiệm”, cho nên cần kiệm là cái gốc của việc chăm lo gia đình. Chỉ cần có cần kiệm thì gia đình này chắc chắn thịnh vượng, chỉ cần quốc gia cần kiệm thì chắc chắn sẽ giàu mạnh.

“Kỳ thất chi dã”. Quốc gia gia đình đều suy yếu hoàn toàn do sự xa xỉ gây ra. Vì vậy, tiết kiệm thì có thể tiết dục, xa xỉ thì sẽ phóng túng dục tình. “Phóng tình giả” thì rất nguy hiểm, cả thân tâm cũng rất nguy hiểm, sức khỏe sẽ bị phá hủy.

Các vị xem, những người trẻ hiện nay sức khỏe càng ngày càng tệ, đều là do không biết trọng điểm của sự tiết dục. “Tiết dục giả an”. Các vị xem, một gia đình biết cần kiệm thì cuộc sống của họ rất dư dả, rất yên ổn. Hơn nữa, không chỉ hiện tại yên ổn, thế hệ sau của họ cũng yên ổn, bởi vì thế hệ sau cũng đã nuôi dưỡng được thái độ sống cần kiệm.

Việc cần kiệm này, Đường Thái Tông cũng làm một tấm gương tốt cho chúng ta. Thái Tông là một hoàng đế thành công như vậy, chắc chắn không phải là sự ngẫu nhiên. Vào năm Trinh Quán thứ hai, có vị quan can gián, y theo trong “Lễ Ký” nói: “Vào tháng cuối mùa hạ, tháng cuối cùng của mùa hè có thể cư trú ở trên nhà sàn”. Vì sao vậy? Bởi vì mặt đất tương đối ẩm ướt, mùa hè trời mưa nhiều. Mùa thu, mưa thu cũng vừa mới bắt đầu, trong cung tương đối ẩm ướt. Sự ẩm ướt thì không tốt cho sức khỏe, cho nên có thể cất nhà sàn để ở. Đúng ngay lúc mười mấy tuổi thì Hoàng đế Thái Tông đã rong ruổi nơi sa trường, dầm sương dãi nắng, ông cũng bị bịnh phong thấp. Cuối cùng, họ thỉnh cầu Hoàng đế Thái Tông xây dựng một căn gác để ở, Hoàng đế trả lời: “Trẫm tuy là bị bịnh phong thấp, không thích hợp trú ở những nơi ẩm ướt. Các khanh tuy đều đến cầu xin ta xây dựng một căn gác, nhưng chi phí quá nhiều, tiêu tốn số tiền quá lớn”. Thái Tông nhắc đến thời Hán Văn Đế (họ luôn lấy cổ Thánh tiên Hiền làm tấm gương), Văn Đế cai trị thời Văn Cảnh cũng rất hưng thịnh, nhà vua muốn xây một sân phơi, nhưng bởi vì phải tiêu tốn số tiền của mười dòng họ, Hán Văn Đế nghe xong trong lòng không đành, cho nên liền không xây sân phơi. Hoàng đế nói: “Đức hạnh của trẫm không bằng Hán Văn Đế mà lại tiêu số tiền vượt hơn hẳn Hán Văn Đế, lẽ nào một quân vương phụ mẫu của thiên hạ phải làm những việc này sao?”. Các vị quan đã năm lần bảy lượt thỉnh cầu, nhà vua vẫn giữ nguyên ý định, không đồng ý dựng lầu gác này. Thái Tông thật đáng quý!

Trên làm thì dưới noi theo. Vào lúc đó, có một vị đại quan là Cụ Sầm Văn Bổn làm đến chức Trung Thư Lệnh (đây là quan lớn cấp bộ trưởng), nhà của cụ cũng tương đối trũng thấp, cũng khá ẩm ướt, trang trí của cả căn nhà vô cùng giản dị. Có người khuyên với cụ nên tích lũy một chút tài sản cho mình, kêu cụ đi mua đất đai hoặc là xây dựng nhà cho to lên, làm cho thoải mái một chút. Văn Bổn than vãn: “Tôi vốn là một người nông dân áo vải ở Nam Dương tỉnh Hà Nam”, nghĩa là một người dân bình thường, “cũng không có lập công lao hãn mã nào”, nghĩa là không có rong ruổi nơi sa trường để lập công lao hiển hách. Ông là một vị quan văn dùng bút mực để viết những lời bẩm tấu, can gián cho quốc gia, sau này được làm đến chức quan Trung Thư Lệnh. Bản thân ông cảm thấy như vậy là đã quá lắm rồi, đã đạt được đỉnh điểm rồi, đã chịu ơn quá lớn với hoàng đế, với quốc gia rồi. Bổng lộc cao như vậy, ông tiếp nhận đã cảm thấy trong lòng rất bất an, cảm thấy ân đức của quốc gia rất lớn, làm sao mà còn nói bản thân lại đi kinh doanh sản nghiệp kiếm thêm chút đỉnh tiền nữa, ông nhất định không thể làm như vậy được. Những người đến khuyên nghe ông nói như vậy, than vãn như vậy là đã thoái rồi. Những vị quan này cũng rất là cần kiệm, cũng là học theo Hoàng đế Thái Tông. Căn nhà của Thừa tướng Ngụy Trưng cũng vô cùng giản dị, thậm chí là rất sơ sài. Vốn là muốn xây dựng cung điện của triều đình, nhưng Hoàng đế Thái Tông biết được nên mang phần gỗ đó di chuyển toàn bộ đến nhà Thừa tướng Ngụy Trưng để xây cất. Nhà vua rất quý trọng đại thần cấp dưới của mình.

Chúng ta tiếp tục xem câu kế tiếp: “Bão phác tử, bổ dụ”. Chúng ta cùng nhau đọc đoạn văn một lần:

Lệnh cấm không rõ ràng nhưng lại dùng hình phạt hà khắc để dẹp yên họa hoạn. Triều đình đối với chiến sự mưu hoạch không thích đáng, không phản tỉnh, lại dốc hết binh lính đi xâm lược các nước láng giềng. Việc đó giống như cắt bỏ hoa màu để tiêu diệt châu chấu, chặt hết cây cối để tiêu diệt sâu mọt, tự nuốt thuốc độc để tiêu diệt chấy rận, tháo bỏ phòng ốc để xua đuổi chim chóc chuột nhà”.

Đoạn này nói đến nhà vua trong “quân đạo” có phần “trừng phẫn” của “tu thân”. Làm lãnh đạo không nên quá nóng giận, phải nên biết điều phục cơn nóng giận, phẫn nộ của mình.

Cấm lệnh bất minh”, nghĩa là luật lệ của quốc gia không rõ ràng.

Nhi nghiêm hình dĩ tĩnh loạn”. Luật lệ không rõ ràng, người dân không biết làm thế nào mới đúng, cuối cùng là có những cuộc bạo loạn. Trái lại, họ dùng hình phạt rất nghiêm khắc để trấn áp. Điều này chính là dùng tâm phẫn nộ để xử lý sự việc, để đối xử với người dân. Điều này không đúng.

Vì vậy, trong “Luận Ngữ”, Khổng Tử có nói một đoạn, nhắc nhở đúng điểm yếu của những người lãnh đạo. Phu Tử nói:  “Không dạy bảo mà giết gọi là ác nghiệt, không răn đe mà muốn thấy thành tựu thì gọi tàn bạo”. Chúng ta nên ôn tập trước khi giảng qua.

Mạn lệnh chí kỳ vị chi tặc, do chi dư nhân dã, xuất nạp chi lận, vị chi hữu tư”. Chúng ta khâm phục lời giáo huấn của Phu Tử, lúc nào cũng thuận theo sự vật. Có một điều căn bản để suy nghĩ, để giải quyết, không giáo dục cho họ mà xử phạt họ, thậm chí là sát hại họ.

Vị chi ngược”, sự tàn bạo này đối với người dân, bao gồm việc dạy học ở trong trường của chúng ta, không giáo dục mà lại xử phạt, gọi là ngược đãi trẻ em. Đây không phải là một vị vua của người, là sự việc mà thầy của người nên làm. Chúng ta có trách nhiệm dạy họ cho tốt, có trách nhiệm dạy cấp dưới cho tốt. Nhất là hiện nay, văn hóa truyền thống của thế hệ này, đạo lý làm người tương đối bị khiếm khuyết, họ cũng là những người chịu thiệt hại, họ cũng rất đáng thương. Vì vậy, chúng ta phải dùng tâm nhẫn nại để chăm sóc dạy bảo họ, họ có duyên với chúng ta một ngày thì chúng ta liền tận tâm một ngày. Một vị lãnh đạo lòng dạ phải rộng lớn, lòng khoan dung phải lớn. Lượng lớn thì phước lớn. Không nên nói: “Ây da, anh nhân viên này lãng phí rất nhiều thời gian của tôi”. Giả như anh ấy thật sự vẫn có duyên với các vị thì các vị nên chân thành quan tâm anh ấy mới đúng. Thiệt thòi là phước. Người Phúc Kiến chúng ta có câu nói: “Ông trời thương yêu những người khờ khạo chất phác (nghĩa là không so bì tính toán với họ, có thể bố thí rất vui vẻ). Các vị tận tâm tận lực quan tâm tốt đến những người trẻ hiện nay, cũng chính là giúp đỡ cho đất nước giáo dục họ, sau này họ phải xây dựng gia đình, cũng phải gánh vác quốc gia trong tương lai. Các vị dạy được một đứa trẻ hiểu biết chuyện thì công đức vô lượng, hơn nữa nói thật là thầy và trò cùng tiến bộ. Các vị thật sự dùng tâm để dạy thì đức hạnh, năng lực của các vị sẽ được nâng cao hơn, thiên hạ thật sự không có chuyện bị thiệt thòi. Chân thành an trú trong duyên phận, tận tâm tận lực mà làm thì mới đúng. Càng đáng quý hơn là canh giữ cho tốt cái tâm này, là phúc hậu, nhân ái mà không hà khắc.

Bất giới thị thành”. Không đi khuyên giải cho người dân, còn mở to mắt nhìn họ làm sai mà thấy vui sướng, kéo họ trở lại rồi xử phạt. Điều này gọi là tàn bạo, chính sách tàn bạo.

Mạn lệnh chí kỳ”, nghĩa là một số đạo luật công bố rất chậm, sau đó thì lại kêu người dân lập tức tuân thủ, nếu không tuân thủ thì liền phạt. Các vị làm sao mà phản ứng chứ? Là vấn đề của quốc gia nào? Đây gọi là làm tổn thương người dân. Hay là với tình huống như vậy ở đơn vị của chúng ta làm sao mà phản ứng mạnh mẽ như vậy chứ? Ta phải đi điều tra kỹ càng những tình huống này, tìm hiểu cho thật kỹ sự việc, nếu không thì ta sẽ tạo ra nghiệp ác.

Do chi dư nhân dã”, điều này thật sự là vị lãnh đạo nên trọng nghĩa khinh tài, nên đem tiền của mà tận tình chăm sóc cho người dân. Nhưng nếu các vị tính toán tiền tài với người dân thì giống như một nhân viên kế toán thu chi rất keo kiệt, một xu cũng không lọt, vậy thì quân vương này của bạn có chút giống như quan lại tàn ác, không có được khí khái độ lượng của một vị hoàng đế, một vị quân vương rồi.

Chúng ta ôn lại một câu chuyện. Văn Vương hỏi Khương Thái Công: “Làm sao để cai trị thiên hạ?”. Thái Công nói: “Vương quốc phú dân, bá quốc phú sĩ, cẩn tồn chi quốc phú đại phu”. Nếu quốc gia diệt vong thì kho tài sản của quân vương sẽ bị mất, có nhớ hay không? Phục hồi trí nhớ lại chưa? Trong “Cổ văn độc bổn”, điều này nói vô cùng quan trọng. Chỉ cần để cho người dân sống tốt thì quốc gia này chắc chắn sẽ mạnh. Chỉ cần bản thân hoàng đế có tài sản, bản thân quân vương có tài sản thì quốc gia này nhất định sẽ diệt vong. Kết cuộc Văn Vương nói: “Tốt rồi, nói rất hay!”. Khương Thái Công tiếp tục nói một câu: “Túc thiện bất tường”, biết việc thiện mà không đi làm ngay thì không có được sự may mắn. Văn Vương nghe xong lập tức hiểu ra, liền mở hết cửa kho, toàn bộ những người góa bụa cô đơn đều được giúp đỡ.

Mọi người nên nhớ câu nói này: “Túc thiện bất tường”, biết được việc làm tốt mà không noi theo, đây là điều không may.

Văn nghĩa bất năng tỉ, bất thiện bất năng cải, thị ưu”. Khí phách này của Khổng Tử là nghe được việc đạo nghĩa, việc làm tốt phải lập tức làm ngay. Thật ra, nếu không lập tức làm ngay thì bị quên.

Minh nhật phục minh nhật, minh nhật hà kỳ đa, ngã sanh đãi minh nhật, vạn sự thành sa đà”. Được rồi, chỗ này nhắc đến “cấm lệnh bất minh”, không phản tỉnh chính mình thì làm không được thỏa đáng. Không phản tỉnh chính mình, ngược lại dùng hình phạt nghiêm khắc để trấn áp, để xử phạt người dân, điều này chẳng được thỏa đáng.

Vào thời của Tùy Dạng Đế (đây là Hoàng đế Thái Tông đang tưởng nhớ lại), Tùy Dạng Đế lúc đó đã bắt oan khoảng hai ngàn người trộm cướp. Có một vị quan đã đi điều tra. Về cơ bản thì tất cả đều là bị oan, hình như chỉ có bảy người hay là chín người vẫn chưa thể xác định được nơi xảy ra vụ án lúc đó xảy ra ở chỗ nào, hơn một ngàn chín trăm người khác đều chứng minh được cơ bản là vô tội. Nhưng những vị quan đại thần đi điều tra xong nói: “Hoàng đế đã ra lệnh rồi, chúng tôi không dám cãi lại lệnh của Hoàng đế”. Rốt cuộc là chém chết hơn một ngàn chín trăm người. Như vậy thì đâu có đạo lý không mất nước chứ. Họ xử người dân về tội gì? Đương nhiên ngoài Tùy Dạng Đế hồ đồ ra thì những vị quan này cũng thật sự là phải bị đọa địa ngục. Đâu thể nói hoàng đế đã ra lệnh rồi thì xem hơn một ngàn chín trăm mạng người như cỏ rác. Các vị nói xem, người dân không tạo phản, đó mới là điều kỳ lạ đúng không? Các vị nói xem, hơn một ngàn chín trăm gia đình này có thể đồng ý với quốc gia không? Người được lòng dân thì được thiên hạ, người làm mất lòng dân thì chắc chắn sẽ mất thiên hạ. Hoàng đế Thái Tông luôn luôn lấy triều nhà Tùy làm tấm gương, đây cũng là chỗ hiếm thấy của ông.

Câu tiếp theo: “Miếu toán bất tinh, nhi cùng binh dĩ xâm lăng”.

 “Miếu toán bất tinh” là chỉ chính sách trọng đại của quốc gia, hoặc là lập kế hoạch việc quân sự to lớn của quốc gia. Nhận định không thích hợp, không chuẩn xác, không chỉ không phản tỉnh, mà còn dùng triệt để lực lượng của mình đi xâm lăng các nước láng giềng. Việc này cũng làm cho dân chúng của nước láng giềng phẫn nộ. Hơn nữa, bản thân mình đã sai mà còn đi đánh người khác, việc này cũng rất khó nhận được sự chấp nhận của dân chúng trong nước. Hành vi như vậy chắc chắn sẽ chiêu cảm đại họa đến. Điều căn bản này không được phản tỉnh là do tính khí cáu kỉnh làm chủ, cái tâm sân hận đã làm chủ. Làm như vậy, như chúng tôi vừa mới nói, không  chịu phản tỉnh mà còn trách mắng người dân, không chịu phản tỉnh mà còn đi đánh các nước láng giềng, thì quốc gia này sẽ nhanh chóng bị diệt vong. Cách họ hành xử như vậy, thí dụ giống như cái gì? “Do sám hòa dĩ kế hoàng trùng”. Từ “hòa” này ý nói là hoa màu, nghĩa là hết thảy hoa màu đều bị cắt bỏ hết để giết chết châu chấu. Nghĩa là nói nhà vua muốn trừ bỏ châu chấu cho nên mới cắt bỏ hết toàn bộ hoa màu. Chính là nói nhà vua luôn luôn giải quyết vấn đề trong sự phẫn nộ, rốt cuộc là đất nước cũng bị ông phá hủy.

Vì vậy, cả một đời người, điều hối hận nhất là những sự việc gây ra trong cơn nóng giận. Con người nếu như không hối hận, nếu như không tạo ra những sai lầm chẳng có cách nào xoay chuyển, nhất định phải nên kiềm hãm lại. Khống chế được cảm xúc, làm chủ được cảm xúc mới có thể nắm vững được tương lai. Các vị xem, bây giờ hãy tưởng tượng một chút, có một người tức giận với con châu chấu, vì muốn giết hết châu chấu nên hết thảy ruộng đất họ đã gieo trồng đều bị chặt hết. Họ cảm thấy có chút khoái chí. Đến khi họ bình tĩnh trở lại, thì “xong rồi, chẳng còn gì để ăn”. Các vị xem, con người lúc nào cũng là hối hận, hối hận, phần sau là sự ăn năn rất to lớn.

Phạt mộc dĩ sát hiệt hạt”, đốn sạch toàn bộ cây này, vì sao vậy? Vì họ muốn giết sâu bọ. Cảm xúc của con người hiện nay thay đổi rất nghiêm trọng, xử lý công việc đều là làm như vậy. Thí dụ như nói tình cảm không được như ý, “tôi không cưới được cô thì tôi cũng không tha cho cô đâu”, rốt cuộc thì cuộc đời của anh đó cũng bị hủy hoại mất. Cảm xúc này thực tế là quá nghiêm trọng.

Giảm thực dĩ trung tảo sắt”. “Giảm thực” ở đây là nói uống thuốc độc để giết chết con bò chét trên thân thể của mình.

Thêm một thí dụ nữa, đập căn nhà bỏ đi”. Hôm nay ta liều với ngươi, chính là muốn bắt cho được con chuột, rốt cuộc là đập bỏ căn nhà của mình đi để đuổi bắt con chim se sẻ và con chuột.

Mọi người bình tĩnh mà xem, có rất nhiều báo chí đăng tin, những tình huống cũng có chút giống như điều này, nghĩa là họ không kiềm chế được cảm xúc nên tự hủy hoại mất cuộc sống của mình. Vì vậy, một vị lãnh đạo phải luôn luôn nghĩ đến cả quốc gia, cả đoàn thể, không nên vì cảm xúc của mình mà gây ra tai họa lớn.

Trong “Luận Ngữ”, Khổng Tử có nói: “Nhất triêu chi phẫn”. Cơn nóng giận trong một buổi sáng hôm nào đó không khống chế được cảm xúc, bỗng nhiên xung đột với hoàng đế, xung đột với người chủ quản rất nghiêm trọng. Hoàng đế ra lệnh “tru di cửu tộc”. Một cơn giận buổi sáng đã quên thân mình, còn liên lụy đến người thân của mình. Họ không biết được bản thân của họ còn có mạng sống của người thân nữa, có thể do họ đã hành động theo cảm tính, phẫn nộ nên gặp phải nguy nan. Việc này là không có trí tuệ. Hiện nay không có tình huống như vậy, nhưng chúng ta luôn luôn vì sự nổi giận mà phá hỏng công việc, phá hỏng sự nghiệp, cuối cùng có thể người ở trong nhà cũng bị mệt theo chúng ta. Đặc biệt là tức giận sẽ làm hại gan, sức khỏe suy kém, cha mẹ, người thân đều lo lắng.

Con người không thương yêu cái thân này, điều trước tiên là đã thiếu cái tâm hiếu. Thứ hai là không có đủ trách nhiệm đối với gia đình, đoàn thể. Con người nhất định phải luôn luôn nghĩ đến gia đình, đoàn thể; không nên tăng thêm gánh nặng cho gia đình, để đoàn thể lo lắng cho đức hạnh của chúng ta, lo lắng cho sức khỏe chúng ta. Việc này là không tận hết bổn phận của một con người. Chăm sóc bản thân mình tốt cũng là một trách nhiệm. Điều này là cùng với mọi người vừa nhắc đến tánh quan trọng của việc kiềm chế.

Chúng ta tiếp tục xem câu tiếp theo, ở quyển ba. Hai câu này là uốn nắn tánh xấu của bản thân mình. Hay nổi nóng thật sự dễ dàng chuốc lấy sự diệt vong, nhất là cũng dễ bị tự cao tự đại, không biết giữ bình tĩnh, không biết phản tỉnh. Lời giáo huấn ở trong “Hán Thư”:

Những Thánh Nhân làm lãnh đạo lúc nào cũng lo nghĩ cho lợi ích của nhân dân trong thiên hạ, không vì sự phẫn nộ của cá nhân mà làm tổn hại đến điều chính nghĩa trong thiên hạ.

Những vị cổ Thánh tiên vương này đức hạnh làm được Thánh nhân, họ lúc nào cũng lấy lợi ích của người dân mà suy tính, để cân nhắc, nhất định sẽ không vì sự tức giận nhất thời của mình mà tổn hại đến lợi ích chung của cả quốc gia, đến quyền lợi của cả quốc gia. Họ sẽ không làm những việc như vậy. Quốc gia cũng như vậy. Chúng ta ở trong một đoàn thể luôn luôn lấy đại cuộc làm trọng, luôn nghĩ về đoàn thể, bất kỳ người nào có ân oán với chúng ta nhất định phải bao dung, nhất định không vì thù oán cá nhân mà gây trở ngại cho công việc của tập thể. Đây là việc chung trong thiên hạ. Người mà nghĩ đến nhân dân thì nhất định sẽ không làm những việc này. Giả như chúng ta có cái tâm như vậy, ở trong tất cả mọi cảnh duyên liền biết nghĩ đến đoàn thể, không thể tạo ra sự xung đột, sự đối lập. Nên “dĩ hòa vi quý”, “thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”. Câu này cũng nói đến rất nhiều vị vua vì tức giận nhất thời liền phát động mấy trăm ngàn quân đi đánh nhau. Thật sự con cái của mấy trăm ngàn người đó đều ở trong phút giây sanh tử, hơn nữa lương thực ăn mỗi ngày đều là gánh nặng cho quốc gia. Vì một mối thù cá nhân, rốt cuộc là quốc gia phải gánh nặng như vậy. Đây không phải là người sáng suốt, cho nên mới làm những việc như vậy. Địa vị càng cao, càng muốn chi phối cảm xúc, vì sao vậy? Địa vị càng cao, cấp dưới và những người trong đoàn thể rất tự nhiên sẽ tôn trọng chúng ta. Cấp dưới tôn trọng chúng ta thì sự nổi giận của chúng ta lại đặc biệt lớn, buồn vui rất thất thường đối với những người tôn trọng chúng ta, trong tâm của họ rất khó điều chỉnh thích hợp. Họ vốn là rất tôn trọng, nhưng cơn tức giận của chúng ta nhiều như vậy đã làm cho tâm của họ có nhiều trở ngại, rất khó chịu. Việc này cũng nên để cho chúng ta phải bình tĩnh, nên kết thiện duyên với những người có duyên, nên mến mộ mỗi cái nhân duyên.

Chúng ta từ nơi gia đình mà xem lại, giả như cha mẹ buồn vui thất thường thì tâm lý của con cái họ đặc biệt sẽ có chướng ngại, thậm chí đối với mọi người đều có sự đề phòng. Bởi vì khi chúng còn nhỏ rất cung kính cha mẹ, rất muốn sà vào lòng của cha mẹ, nhưng mà cha mẹ đột nhiên nổi lên cơn nóng giận, làm cho chúng không lần ra manh mối, cơ bản là làm cho chúng không biết đã xảy ra chuyện gì. Vỗ hai bàn tay chạy đến, rốt cuộc là làm cho chúng đối với cha mẹ hoàn toàn là một thiên tính tự nhiên liền trở thành chướng ngại. Nghiêm trọng hơn, chính là không còn tin tưởng vào cha mẹ nữa. Con cái tin tưởng vào cha mẹ đó là thiên tính, vì sao cuối cùng lại trở thành như vậy? Người làm cha mẹ chúng ta phải nên suy xét lại, vì sao con cái có tâm sự mà không nói với chúng ta, sự chướng ngại, sự ngăn cách này bắt đầu từ lúc nào đây? Có những lúc không nên một mực trách móc con cái, rất nhiều ngọn nguồn của vấn đề đều do ở nơi người lớn là cha mẹ.

Tôi con nhớ quá trình trưởng thành của mình đến lúc học trung học, làm việc gì thì nhất định đều phải thưa với mẹ, việc sai lầm cũng thưa với mẹ. Bởi vì trong gia đình thì không có bí mật, nếu không nói thì hình như ngủ không được, trong lòng cảm thấy như là đã dối gạt mẹ, không nói thật với mẹ thì rất khó chịu. Đây là việc tự nhiên.

Chúng ta tiếp tục xem câu tiếp theo, trang 218, quyể thứ hai. Câu nói vừa rồi làm chúng tôi nhớ đến mấy tiết học trước. Cống Vũ khuyên ngăn Hán Nguyên Đế, trong đó có nói đến câu này. “Vương giả thụ mệnh ư thiên, vi dân phụ mẫu”. Quân vương là nhận được mệnh trời nên phải đảm nhiệm, có thể gánh trách nhiệm giám hộ người dân, thay trời yêu thương nhân dân, như vậy mới đúng. Cho nên cũng giống như chúng ta hôm nay, có thể làm giáo viên, có thể làm bậc trưởng bối, có thể làm lãnh đạo của một đoàn thể, điều này cũng là nhận mệnh ở nơi ông trời. Phước báu của chúng ta đã hiện tiền, hãy trân quý cái phước báu này, tạo phúc ở nơi con người. “Đệ Tử Quy” nói: “Đối người ở, thân đoan chánh. Tuy đoan chánh, lòng độ lượng”,  cái tâm phải như vậy.

Tiếp theo là chúng ta nói đến phương diện tu thân, một điểm quan trọng khác chính là “chuyển biến thiện”. Hiểu được điều thiện rồi thì phải nhanh chóng đi làm. Những lời giáo huấn trong “Luận Ngữ”, chúng ta cùng nhau đọc một lần. Khổng tử nói: “Trong ba người đi đường tất có kẻ làm thầy mình. Bắt chước điều lành của người thiện, sửa đổi điều sai lầm của kẻ bất thiện”. Chúng ta nhìn thấy đoạn nguyên văn Ngụy thừa tướng đã biên soạn và phiên dịch những đoạn chú giải nhỏ: “Ngôn ngã tam nhân hành, bổn vô hiền ngu, trạch thiện tùng chi, bất thiện cải chi, cố vô thường sư”. Ba người đi chung với nhau hoàn toàn không thể nói một người là hiền, một người là ngu, ý nghĩa không phải như vậy, mà là ba người cùng sống với nhau, hoặc là sống chung với những người khác, nên nhìn thấy ưu điểm, hành vi thiện của người khác, chúng ta cố gắng mà học tập mà noi theo. “Tức tư tề”, thấy người khác có những điều bất thiện không nên chỉ trích, mà nên hồi đầu phản tỉnh mình. Mỗi một người đều là tấm gương của ta, cho dù họ là thiện hay là ác, đều là để giáo dục cho ta. Hãy xem mọi người đều là thầy của ta, chỉ có bản thân ta là học trò. Nếu họ bất thiện thì bản thân ta phải sửa trước. Ta sửa xong rồi, sự thị phạm tốt này sẽ ảnh hưởng đến họ, họ cũng có thể sửa đổi. Ta không sửa đổi mà chỉ yêu cầu họ, trong tâm họ không phục.

 “Cố vô thường sư”, không nói thầy giáo cố định, họ đều đang học tập mọi lúc mọi nơi. Không chỉ học tập với con người, thậm chí là học tập với tất cả trời đất vạn vật. Cổ nhân có cách tu dưỡng như vậy. Kể cả việc nhìn thấy cái bàn này. Các vị nhìn xem, cái bàn này mỗi ngày đều phục vụ cho chúng ta, chúng ta đặt vật gì lên nó cũng không than mệt, không oán không trách mà phục vụ chúng ta, có nên học tập cái bàn này không? Kể cả việc bạn nhìn thấy một cái cây, cây cối mỗi ngày cho ta không khí, không có khí oxy thì ta không thể sống, lá của nó quang hợp tạo ra khí oxy cho chúng ta, trái của nó cho chúng ta ăn, thân của cây còn cho chúng ta xây cất nhà cửa, làm những vật dụng trong gia đình, toàn thân của nó là vô tư cống hiến cho con người, đều không có sự đòi hỏi, rất có đạo nghĩa. Các vị xem, con người chúng ta mới bỏ sức một chút là bắt đầu đòi hỏi. Ngày nay nghiêm trọng đến nỗi cả vợ chồng cũng đòi hỏi điều kiện, trước khi kết hôn vẫn phải đem tài sản phân chia rõ ràng. Vì vậy, nhìn thấy trời đất vạn vật phục vụ cho loài người chúng ta, chúng ta cũng nên học hỏi điều này, lấy trời đất vạn vật làm thầy. Có thể có được sự giác ngộ ở khắp mọi nơi, có thể hướng thượng ở mọi nơi, có thể kiểm tra sự thiếu sót của bản thân mình ở mọi nơi, cái tâm như vậy hiếm có, là hiếu học, trí huệ càng lúc càng gần hơn. Cho nên cái tâm này cần phải thay đổi, ngay sau đó chính là thái độ này, câu nói này giống như một luồng ánh sáng chiếu vào tâm của mình. Chiếu vào chưa? Nhất định sẽ chiếu vào.

Tôi xem đến câu nói này, đột nhiên nhớ đến tuần trước hình như chúng tôi đã phân công làm bài tập. Sao mà chỉ có mấy người có phản ứng vậy? Chẳng lẽ là tôi không nói rõ sao? Không có phân công làm bài tập sao? Hãy nêu ra năm người mà các vị khâm phục nhất, như vậy thì các vị mới biết được các vị có thể học được điều gì từ những người đó. Hơn nữa học được, hiểu được, làm như thế nào để chân thật thực hiện. Noi theo cũng phải xác định rõ ràng, nếu không thì rất nhiều người xung quanh đáng để cho chúng ta học tập, rốt cuộc là đã quen biết năm năm - mười năm, một chút ưu điểm của họ cũng không học được. Cách học những Kinh giáo như vậy, hết thảy đều là ở bề ngoài, học một cách hời hợt, rất đáng tiếc! Được rồi, bài tập này phải nên nộp, tuần sau sẽ nộp.

Con người không nên cái gì cũng chú ý đến điều kiện bên ngoài, tuần sau không đi học thì không thể nộp. Trọng thực chất, không trọng hình thức, là phải dựa vào lương tâm chứ không phải là dựa vào ai khác, đúng không? Các vị nêu ra xong rồi thì nộp bài tập, tổ tiên của chúng ta đang theo dõi.

Được rồi, hôm nay xin giao lưu với mọi người đến chỗ này! Xin cám ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 19 và 20)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

Biên Tập: Ban Biên Tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 33


Hôm nayHôm nay : 6514

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 182481

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11145183

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?