Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 3 - 4)

Thứ ba - 25/04/2017 22:15

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Các vị trưởng bối tôn kính, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Vừa rồi chúng ta đã xem qua phần lời tựa do Sư trưởng viết, nói đến mấu chốt của việc học tập nằm ở hai chữ “thành kính” mà dẫn đến thái độ hết sức xem trọng và thành kính đối với Kinh điển. “Khúc Lễ” viết: “Vô bất kính”. Chữ “vô” này có nghĩa là không có, không có một lúc nào có thể không giữ gìn thái độ cung kính này. “Trung Dung” nói: “Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã, khả ly phi đạo dã”. Tâm thành kính này hễ mất đi, ngay lúc đó không còn là người đang tu đạo nữa, đó là tùy thuận tập khí, lạc vào trong tà đạo mất rồi, cho nên mọi lúc mọi nơi đều phải hết sức cung kính. Học vấn của lão tổ tông chính là: “Chủ kính tồn thành”. Mức độ thành kính càng cao càng có thể giữ gìn được sự tu dưỡng chân thật này. Chúng ta hiện tại ở nơi nào thì có thể không ngừng nâng cao sự chân thành cung kính của chính mình? Đều phải áp dụng vào trong cuộc sống thường ngày, nếu không thì tâm của chúng ta sẽ rất thô, đại bộ phận thời gian đều là có tính ứng phó, ngạo mạn làm chủ, vậy thì rất khó nâng cao chính mình.

Ví dụ, trước khi chúng ta mở Kinh sách ra, phải biết ơn giáo huấn của Thánh Hiền nhân, sau đó mới mở ra xem. Chúng ta nên tập thành thói quen này, bao gồm việc mỗi ngày bạn súc miệng, chải đầu, rửa mặt xong, bạn có thể hành ba quỳ chín lạy đối với cổ Thánh tiên Hiền, chí Thánh tiên sư. Đây đều là nuôi dưỡng tâm cung kính cho chính mình. Thậm chí là viết chữ đều phải cung cung kính kính để viết ra từng chữ một. Trong “Đệ Tử Quy” nói: “Chữ viết ẩu, tâm không ngay”. Trong văn hóa của Trung Hoa thì chữ viết cũng là một báu vật, trong chữ viết đó có hàm chứa trí huệ của cuộc sống. Bạn không thể khi viết chữ lại dùng tâm tán loạn mà viết, lúc này thì tâm cung kính liền không thể giữ gìn được. Bao hàm việc viết thư cho người khác, có lúc tâm chúng ta thô, viết thư cho người khác quá ẩu tả, đối phương cầm một lá thư đọc mà phải đoán bảy - tám chữ, không biết chữ đó nghĩa là gì. Việc này thể hiện chúng ta không đủ cung kính đối với người ta. Cho nên, kỳ thực “Đệ Tử Quy” từ đầu đến cuối đều là tu tâm cung kính.

“Phàm nói ra, tín trước tiên”. Cung kính chính mình, lời nói đi đôi với việc làm, đây là tự mình cung kính. Câu này dễ làm hay không? “Không vấn đề gì, không vấn đề gì”, ba ngày sau là quên mất rồi. Cung kính vẫn là phải biểu hiện ở thái độ làm việc. Vừa nhận lời thì trước tiên phải ghi lại, không ngừng nhắc nhở chính mình không được quên. Đây đều là biểu hiện sự cung kính cụ thể của một con người.

“Thụ nhân chi thác, trung nhân chi sự”. Chỉ cần là sự việc đã nhận lời thì phải tận tâm tận lực mà làm, tuyệt đối không thể qua loa được. Trước khi nhận lời thì phải suy nghĩ cẩn thận, sau khi nhận lời thì toàn tâm toàn lực mà làm. Ngoài ra, còn phải cung kính đối với hết thảy vạn vật. Bàn ghế, đèn bảng bạn đều phải trân quý chúng, đó là cung kính. Ăn uống không nên xa xỉ, phải tiếc phước, biết ơn bác nông phu, cảm ơn đại chúng. Cho nên đích thực là “vô bất kính”.

Tiếp đến nói: “Tiền Thanh Khang Hy viết”, nghĩa là Khang Hy Hoàng đế nói. Hoàng đế Khang Hy khiến cho chúng ta rất bội phục. Họ là dân tộc Nữ Chân. Khi họ nhập vào Trung Quốc, học tập văn hóa Trung Hoa, thâm nhập văn hóa Trung Hoa vượt hơn cả người Hán, sự cống hiến đối với văn hóa vượt hơn cả triều đại Hoàng đế trước. Chúng ta xem, “Tứ Khố Toàn Thư”, “Tứ Khố Hội Yếu”, “Càn Long Đại Tạng Kinh” đều là biên soạn từ thời Càn Long. Nhưng vấn đề họ khiến chúng ta bội phục nhất là lấy thân làm gương. Bản thân hiếu học, thật sự học, thật sự làm, và còn dẫn dắt văn võ bá quan thâm nhập Kinh tạng. Họ tự mình ngồi ở phía trước để nghe giảng. Trên làm thì dưới làm theo, cho nên triều Thanh hơn 100 năm hưng thịnh. Đây tuyệt đối không phải là ngẫu nhiên, mà là từ việc họ thành kính đối với Kinh điển và tâm thành kính đối với lão bá tánh.

Hoàng đế Khang Hy nói: “Lâm dân dĩ chủ kính vi bổn”, luôn luôn cung kính yêu thương đối với lão bá tánh. Đây đều là giáo huấn của Phu Tử. Trong “Luận Ngữ”, Quý Khang Tử thỉnh giáo Khổng Phu Tử làm sao để lão bá tánh cung kính đối với ông, trung thành với ông và nếp sống trong xã hội mọi người có thể khuyên bảo lẫn nhau. Phu Tử đã trả lời là: “Lâm chi dĩ trang tắc kính”. Ông muốn lão bá tánh tôn trọng thì trước tiên ông phải tôn trọng lão bá tánh. Hạ Thương Chu, Hạ Vương, Đại Vũ đều là Thánh nhân. Họ tự mình lúc ở nhà quần áo đều rất giản dị, rất tiết kiệm. Khi lên triều thì họ vô cùng long trọng, mặc quần áo rất thận trọng. Đó là sự cung kính đối với văn võ bá quan.

Chiếc áo Lão sư Lý Bỉnh Nam mặc bên trong chắp vá rất nhiều. Khi các học trò dọn dẹp lại di vật của Ngài thì nhìn thấy đôi vớ của Ngài đã được vá lại mấy mươi lần. Nhìn thấy mà vô cùng cảm động, rơi cả nước mắt. Thế nhưng Lão sư Lý cũng là một quan viên, Ngài còn là một giáo sư, trong những lúc gặp gỡ mọi người thì ăn mặc rất trang trọng. Tại Liên Xã Đài Trung, trang phục Trung Sơn Ngài mặc khi đó vẫn còn lưu giữ trong viện bảo tàng, chúng ta nhìn thấy đều sẽ cảm thấy còn rất mới. Mặc mấy mươi năm mà sao trông vẫn còn mới? Đó là trân quý đồ vật. Đối diện với đại chúng thì vô cùng cung kính, quần áo ăn mặc đều rất thận trọng, tiết kiệm. Tự mình ở nhà thì rất tiết kiệm, khi đối diện với nhân dân cũng là thái độ cung kính này. Vũ Vương làm như vậy, Khổng Tử dạy như vậy. Bạn xem, truyền đến đời nhà Thanh, Hoàng đế Khang Hy cũng có thể lãnh hội được những giáo huấn đó.

“Tự kính nhi hậu nhân kính”, cung kính đối với người cũng là đang giữ gìn tâm cung kính của chính mình.

“Thành dữ kính, thiên cổ tương truyền chi học, bất việt hồ thử”. Hoàng đế Khang Hy đã lãnh hội được tâm pháp tương truyền thiên cổ, chính là hai chữ “thành”“kính” này, không thể vượt qua hai chữ này.

Một đại nhà Nho thời Tống là Trình Tử đã nói: “Kính thắng bách tà”, cung kính thắng hơn hẳn. Chữ “bách” này là chỉ rất nhiều những tà tri tà kiến. Một sự cung kính thì đã có thể làm kinh sợ tất cả tà niệm. “Thuyết minh tu thân tiến đức”, là tu dưỡng đức hạnh. Cho đến: “Lợi thế tề dân”, trị quốc làm chánh. Sau đó giáo hóa bá tánh: “Duy ‘thành kính’ nhị tự”, trọng điểm là nằm ở tâm thành kính. Có tâm thành kính này rồi, “phương năng viên thành”, thì mới có thể làm được viên mãn sự nghiệp học vấn và lợi dân.

“Nhược đối cổ Thánh tiên Vương chi giáo huấn hào vô thành kính, tung biến lãm quần tịch, diệc nan hoạch thực ích”. Sư trưởng đã nói, nếu như đối với những giáo huấn của cổ Thánh tiên Vương mà không sanh khởi được sự thành kính, cho dù đọc hết tất cả những quyển sách này thì cũng rất khó mà có được lợi ích chân thật. Khổng Tử viết: “Thuật nhi bất tác, tín nhi hảo cổ thị dã”. Thái độ cầu học này của Phu Tử là “Thuật nhi bất tác”, đó là đối với giáo huấn của cổ Thánh tiên Hiền vô cùng tôn sùng, vả lại cũng không có xen tạp cái ý của riêng mình. Đây là khiêm bi, không ngạo mạn.

“Khiêm tắc thụ giáo hữu địa, cử thiện vô cùng”, nghĩa là không hoài nghi giáo huấn của Thánh Hiền nhân. Cho nên, không ngạo mạn và không hoài nghi, tâm thành kính này mới hiển hiện ra. Hễ vừa tham - sân - si - mạn - nghi thì thành kính liền không còn nữa. Hiện tại vì sao mà cầu học vấn lại khó khăn? Hoài nghi đối với cổ Thánh tiên Hiền, hoài nghi đối với sư trưởng thì rất khó được lợi ích. Vả lại, hiện tại con người cuồng vọng, bản thân biết được không nhiều nhưng lại đi phê phán Thánh Hiền, liền bảo Thánh Hiền nói nhiều cái còn sai. Nếu là sai thì đâu thể nào tồn tại được mấy nghìn năm. Có sự ngạo mạn và hoài nghi này thì họ không thể thâm nhập vào trong trí huệ của Thánh Hiền. Cho nên tám chữ này, Ngài Khổng Tử có thể làm được một cách lão thật, chịu nghe lời, thật làm. Ngài chân thật tin tưởng, chân thật chịu nghe lời. “Tín nhi hảo cổ”, chữ “hảo” này là thật sự phụng hành, thật sự noi theo.

Đoạn kế tiếp nói: “Quá khứ Tôn Trung Sơn tiên sinh ư Tam Dân chủ nghĩa giảng diễn trung ‘dân tộc chủ nghĩa đệ tứ giảng’ tăng vân”. Đã từng nói rằng: “Âu Châu đích khoa học phát đạt, vật chất văn minh đích tiến bộ, bất quá thị cận lưỡng bách đa niên đích sự, giảng đáo chính trị triết học đích đế, Âu Châu nhân hoàn yếu cầu chi ư Trung Quốc”. Sự thể hội của Tôn Trung Sơn rất sâu sắc và cũng rất chính xác, chúng ta không cần nói gì khác.

Sự nhấn mạnh trong văn hóa của chúng ta: “Cần kiệm vi trì gia chi bổn”, nhà và quốc gia đều như nhau. Người đọc sách nói là: “Lịch lãm tiền hiền quốc dữ gia thành do cần kiệm bại do xa”. Bất luận là quốc gia, triều đại hay gia đình, thành tựu được là bởi cần kiệm, bại vong là bởi xa xỉ. Chúng ta thấy hiện tại có bao nhiêu quốc gia phá sản? Có bao nhiêu gia đình thu không đủ chi, còn chưa kiếm được tiền thì đã xài tiền rồi? Đây là đã đi lệch lạc chánh đạo. Vả lại, nếp sống như vậy, xã hội chủ nghĩa công lợi rất là lợi hại. Chúng ta còn cảm thấy đây là một thứ mới mẻ, chúng ta phải nên bắt cho kịp trào lưu, thế là đã đi sai một cách nghiêm trọng. Thế hệ trẻ sau này vẫn còn chưa biết kiếm ra tiền thì đã xài rất nhiều tiền, có đến mấy thẻ tín dụng. Vì vậy, trí huệ triết học trong việc trị gia, trị quốc phải nên học ở Trung Hoa xưa.

Các vị xem, Tôn Trung Sơn đã nói: “Chư quân đô tri đạo thế giới thượng học vấn tối hảo đích thị Đức quốc, đãn thị hiện tại Đức quốc nghiên cứu học vấn đích nhân, hoàn yếu nghiên cứu Trung Quốc đích triết học. Thậm chí ư nghiên cứu Ấn Độ đích Phật lý, khứ bổ cứu tha môn khoa học chi biên”. Các vị xem, Tôn Trung Sơn tiên sinh hơn một trăm năm trước thì đã có được chỗ thấy biết như vậy rồi, đã nhìn thấy được sự thiên lệch trong tư duy của người phương Tây đều phải nhờ vào triết học của Trung Quốc, Phật lý của Ấn Độ để mà điều chỉnh những thiếu xót sai lệch của họ.

Chúng ta hãy xem đoạn kế tiếp. Đoạn vừa rồi khiến chúng ta đề khởi tín tâm, phải có lòng tin đối với văn hóa và giáo huấn của Thánh Hiền.

Đoạn kế tiếp nói: “Anh nhân Thang Ân Tỷ bác sĩ cánh vân”. Thang Ân Tỷ đã nói: “Dục giải quyết nhị thập nhất thế kỷ đích xã hội vấn đề duy hữu”. Mọi người hãy xem chữ “duy hữu” này, “duy hữu” chính là duy nhất có thể nương vào “Khổng Mạnh học thuyết dữ Đại Thừa Phật pháp”. Các vị học trưởng, các vị có thể xem câu nói này thì có nghĩa là cuộc đời này đến đây là để cứu thế, nếu không thì chúng ta sẽ không được nhìn thấy câu nói này. Đây không phải là ngẫu nhiên. Cuộc đời này, con người hiểu rõ được cái gì là quan trọng nhất, không làm thì lương tâm sẽ cắn rứt. Cũng giống như người thân, bạn bè chúng ta có khó khăn gì đó nghiêm trọng, chúng ta đều không đến giúp đỡ thì lương tâm của chúng ta sẽ cảm thấy cắn rứt, liền không biết sự vui sướng của cái gọi là “ngẩng đầu không thẹn với trời, cúi đầu không thẹn với người”. Con người hiện tại càng sống càng không thể cười nổi, căn bản vẫn là ở việc có rất nhiều việc lương tâm cảm thấy nên đi làm mà lại không làm. Có thể sẽ có người cảm thấy áp lực của ta không phải là rất lớn. Là áp lực hay là động lực, còn phải xem một niệm trong tâm thái của chúng ta.

Khổng Tử đã dạy chúng ta: “Nhiệm trọng nhi đạo viễn”. Chữ “trọng” này không phải là trọng lượng mà là trọng của quan trọng. Biết kế thừa đạo Nho chính thống, đây là sự việc quan trọng nhất của xã hội và dân tộc. Thể hội được điểm này toàn thân sẽ tràn đầy năng lượng, làm sao lại cảm thấy áp lực nặng nề chứ.

“Nhân dĩ vi kỷ nhiệm”. Lấy việc hoằng dương nhân ái đại đạo làm trách nhiệm, đây là sứ mệnh quan trọng.

“Tử nhi hậu dĩ, bất diệc viễn hồ”. Nếu làm thì phải làm cho tới cùng, cả đời này tận tâm tận lực.

Một người kể từ hôm nay bắt đầu biết được phương hướng mục tiêu cuộc đời của họ là một sự việc hạnh phúc biết bao nhiêu. Mỗi một bước đi vững vàng thiết thực, rõ ràng minh bạch làm sao lại có áp lực cơ chứ! Cho nên ý niệm mà không đúng thì gọi là gây ra áp lực. Gây ra áp lực cũng gọi là phiền não. Trong việc tạo ra áp lực này thì nghiêm trọng nhất là hoài nghi chính mình. Bạn nói: ‘Năng lực của tôi thật sự là không đủ”, không sao, tôi cầu tổ tiên gia trì. Đây là Kinh điển đã dạy. Bạn xem chúng tôi gặp phải sự việc phát sinh, vẫn là phải dùng đến Kinh điển, không thể dùng quán tính của chính mình hay là phiền não tập khí của chính mình. Trong “Hiếu Kinh” đã nói với chúng ta: “Hiếu để chi chí, thông ư thần minh, quang ư tứ hải, vô sở bất thông”. Mỗi ngày lễ bái tổ tiên: “Tôi muốn làm người con hiếu của dân tộc”. Người của tất cả dân tộc đều là anh chị em của ta, phải dùng cái tâm hiếu đễ này để đọc sách, để làm việc, nhất định có cảm thông.

“Tịnh quan kim nhật thế giới loạn tượng phân trình, dục cứu thế giới cứu Trung Quốc, duy hữu Trung Quốc truyền thống văn hóa giáo dục, năng biện đáo”. Mọi người hãy xem Sư phụ viết lời tựa phần văn viết này, phải có thể thể hội được bi tâm của Sư trưởng là tâm tâm niệm niệm đều là vì muôn dân, vì quốc gia dân tộc. “Lão tổ tông lưu truyền chí kim đích trị quốc trí huệ, lý niệm phương pháp kinh nghiệm dữ thành hiệu, quân thị lịch kinh thiên vạn niên khảo nghiệm, sở lụy tích đích bảo tạng kết tinh”. Chúng ta có trí huệ, lý niệm, phương pháp, kinh nghiệm cùng thành quả của 5.000 năm. Dùng vào đâu vậy? Dùng vào thành quả to lớn của việc tề gia - trị quốc - bình thiên hạ, đời đời đều xuất hiện Thánh Hiền thịnh thế. Trong lịch sử Trung Hoa đã xuất hiện rất nhiều lần. Ai thật thà chiếu y theo giáo huấn của Thánh Hiền để làm, có thiên tử như vậy thì đời đó sẽ thịnh thế. Cách chúng ta gần nhất là Thanh triều tộc Nữ Chân thống trị có thể ấn chứng. Họ vốn không phải là người Hán, nhưng ông đã dùng tâm thành kính của mình để lĩnh hội giáo huấn của lão tổ tông, lập tức sự thịnh thế liền hiện tiền, cho nên trị lý thiên hạ đều có thể có thành tựu. Chúng ta dùng ở trong gia đình và đoàn thể của mình nhất định không có vấn đề.

Chúng ta ngày nay muốn người trên thế giới có lòng tin đối với văn hóa truyền thống, vừa rồi tôi đã nói hiện tại lòng tin có nguy cơ, vậy thì phải từ tự thân chúng ta. Cá nhân chúng ta là tấm gương người làm con, người làm vua, người làm cha, làm mẹ người khác, là tấm gương trong mỗi một bổn phận, vậy thì mới có thể kéo theo lòng tin của người khác. Nếu như mối quan hệ vợ chồng của bạn rất tốt, có ai mà không mong muốn mối quan hệ vợ chồng được hạnh phúc hài hòa kia chứ? Họ nhìn thấy bạn thật sự đã làm được rồi, họ liền có lòng tin để mà học hỏi ở bạn. Học tập Kinh điển, đoàn thể của bạn rất đoàn kết, sự nghiệp vô cùng hưng vượng, thì những đồng nghiệp của bạn, thậm chí là những ngành nghề khác đều sẽ học tập theo bạn. Điều này thì Chủ tịch Hội đồng Quản trị - ông Hồ Tiểu Lâm đã làm được rất tốt, cả ông Đổng sự trưởng Hách Thiết Long mà trung tâm của chúng ta đã từng mời. Sự nghiệp hiện tại của họ đều là đang tăng lên gấp bội. Cho nên, đích thực là “người được lòng dân thì được cả thiên hạ”, “thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”. Không những yêu thương nhân viên của họ, mà còn vì xã hội đã làm ra rất nhiều sự cống hiến. Những tấm gương này của họ xuất hiện đã kéo dậy được lòng tin của rất nhiều đoàn thể trong xã hội, tiếp đến là noi theo. Cho nên xã hội hài hòa từ tâm ta bắt đầu làm, từ gia đình ta bắt đầu mà làm, từ làng xã của ta bắt đầu làm, từ khu vực chúng ta bắt đầu làm, từ xí nghiệp đoàn thể của chúng ta bắt đầu làm, tiến thêm bước nữa là từ đất nước của mình mà làm.

Nói đến quốc gia thì Malaysia là quốc gia đa chủng tộc, đa tôn giáo, có thể thực tiễn được văn hóa truyền thống thì đã làm tấm gương tốt cho việc hài hòa tôn giáo, hài hòa chủng tộc trong thiên hạ. Việc này có nghĩa là đã đóng góp rất lớn cho cả thế giới.

“Quần Thư Trị Yếu” chí trân chí quý, quả năng thâm giải lạc thực, thiên hạ thái bình, cá nhân hạnh phúc, tự nhiên khả đắc. Việc này đã nói một cách rất khẳng định, bởi vì trong mấy nghìn năm nay biết bao triều đại và gia đình đã chứng minh. “Bội đạo nhi hành giả, tắc bất miễn tự chiêu tai ương, họa hoạn vô cùng”. Người được đạo thì được nhiều giúp đỡ, người mất đạo thì ít được giúp đỡ. Người mất đạo thì tạo nghiệp chướng, vậy thì sẽ rất khó mà không cảm chiêu tai họa kéo đến, họa hoạn có thể sẽ vô cùng nhiều.

Sư phụ đã nói: “Thâm tri kim nhật “Quần Thư Trị Yếu” chi trọng hiện, thực hữu kỳ thần thánh sứ mệnh”. Bộ sách quý này có thể xuất hiện trở lại là nhờ uy đức của tổ tông, đương nhiên những con cháu như chúng ta phải tiến bước nữa chăm chỉ học tập, sau đó làm ra sự ảnh hưởng tốt đối với xã hội, khởi động nếp sống tốt đẹp cho xã hội. Hoàng đế nếu muốn giáo hóa dân chúng không gì khác ngoài học, chính là phải dạy học. Dạy trước tiên là trên làm dưới theo, chúng ta tự mình dẫn đầu, ở trong gia đình, trong đoàn thể làm cho tốt. Nghe đến bộ sách này có lẽ đều là có một sứ mệnh thiêng liêng nào đó trong cuộc đời này.

“Hoan hỷ ủy thác thế giới thư cục trùng tân ảnh ẩn xuất bản nhất vạn sáo, nghĩ tăng lưỡng người an tam địa tức thế giới các quốc, các đảng, các cấp lãnh đạo, cộng đồng học tập, tắc hòa hài xã hội, đại đồng chi trị đích thế giới chỉ nhật khả đãi”. Cho nên Sư trưởng cũng là tận hết khả năng vì quốc gia dân tộc, vì thế giới mà phụng hiến, ra sức tận lực.

“Hân kiến “Quần Thư Trị Yếu” trùng tân xuất bản tại tức, diêm xuất nhân giả thuộc dư vi thứ, cẩn dĩ thử số ngữ, biểu tùy hỷ tán thán chi ý”. Sư trưởng nhìn thấy người phụ trách thế giới thư cục của chúng ta là bà Diêm Sơ đã nghiêm túc sắp bản in ấn loát bộ sách này, nên cũng bày tỏ sự tùy hỷ. Chúng ta cầu học vấn phải thường có thể đề khởi được một cái tâm tùy hỷ, không thể đề khởi tâm đố kỵ. Mà sự tùy hỷ này, tôi tin rằng cũng sẽ đem lại sự khích lệ đối với người thực hiện.

LỜI TỰA “QUẦN THƯ TRỊ YẾU” CỦA NGỤY TRƯNG

Tiếp theo, chúng ta cùng xem Ngụy Trưng đại nhân viết lời tựa cho “Quần Thư Trị Yếu”.

Vừa mở đầu đã viết: “Bí thư giám Cự Lộc Nam, thần Ngụy Trưng đẳng phụng sắc soạn”. “Bí thư giám” là Ngụy thừa tướng, là quan chức vào lúc đó. “Cự Lộc Nam” là chức vị được tấn phong. Ngày xưa công hầu Bá Tử Nam là tước vị được phong, về sau con trai của ông cũng được thụ phong chức “Cự Lộc Nam” này. Ngụy Thừa tướng đáng quý là ở chỗ nào? Ông đã thỉnh cầu hoàng thượng không nên phong chức cho con trai của ông mà hãy phong chức cho con trai của anh trai ông. Cái khí phách đó của ông đã khiến chúng ta bội phục. Loại tình cảm anh em đó, bao gồm cả việc Khổng Tử tìm đối tượng cho con gái của anh trai là người vừa có học vấn, vừa có tình trạng gia đình tốt, còn tìm cho con gái của chính mình thì có học vấn, nhưng gia cảnh thì tương đối không tốt cho lắm. Điều tốt đều nhường cho anh chị em, điều này thật là đáng quý! Ngụy Thừa tướng làm đại biểu, mọi người cùng nhau tiếp nhận mệnh lệnh của Hoàng đế, thừa lệnh để biên soạn. Ngụy Thừa tướng có thể nhận được sự trọng dụng của Đường Thái Tông, đây là huệ nhãn của Đường Thái Tông. Cho nên trong “Quần Thư Trị Yếu” có nhắc đến một đoạn “Thượng Thư”: “Hữu bất thế chi quân, bí năng dụng bất thế chi thần”. “Bất thế” chính là không giống với người thế gian, chính là vị quân vương siêu phàm mới có thể dùng được đại thần siêu phàm. Vả lại: “Dụng bất thế chi thần, bí năng lập bất thế chi công”. Ông đã dùng đúng người nên đã có thể lập ra được công trạng siêu phàm. Đường Thái Tông dùng Ngụy Thừa tướng, Trinh Quán Chi Trị đã thành tựu rồi, còn biên soạn ra bộ sách quý báu lợi ích cho hậu thế.

Ngụy Thừa tướng cũng là tấm gương trung thần. Các vị xem, ông đã báo đáp cái ơn tình tri ngộ của Thái Tông Hoàng đế. Tần Chiết liền viết hơn 200 phần, viết mỗi phần đều phải suy nghĩ kỹ càng, vậy các vị xem hơn hai trăm phần đó là Tần Chiết ông đã bao nhiêu đêm phải chăm đèn, lo lắng hết lòng vì vua vì nước. Ông thật sự là tận hết lòng trung thành cùng với trí huệ của mình để hồi báo Hoàng thượng.

“Quần Thư Trị Yếu” đặc biệt thể hiện rõ đạo nghĩa vua tôi, mà Thái Tông và Ngụy đại nhân đã biểu diễn được một cách tinh tế sâu sắc. Sau khi Ngụy Thừa tướng qua đời, Đường Thái Tông quá đau lòng, bãi triều suốt năm ngày. Sau năm ngày mà vẫn không lấy lại được tinh thần, không có cách nào thượng triều, rất là cảm thán mà nói: “Lấy đồng làm gương chỉnh được quần áo, lấy xưa làm gương biết được hưng vong, lấy người làm gương biết chuyện được mất”. Vua “lấy người làm gương”, nhưng Ngụy đại nhân đã đi rồi, tấm gương này đã mất, vua vô cùng đau lòng.

Chúng ta cùng xem lời tựa: “Thiết duy tải tịch chi hưng, kỳ lai thượng hỷ”. Chữ “thiết” này chính là ý của bản thân Thừa tướng. “Thiết duy”; “thiết” là tư duy, nghĩa là vi thần cho là, vi thần cho rằng. Chữ “tải” này là chỉ ghi chép, ghi lại. Chính là lịch sử các triều đại đối với Kinh sách, đối với lịch sử đều vô cùng xem trọng, đều dùng tâm để kế thừa, dùng tâm để ghi chép. Lịch sử các triều đại này đều là như vậy. Cho nên “kỳ lai thượng hỷ”, những quyển cổ thư này truyền thừa lại, ghi chép lại. Chữ “thượng” này chính là vô cùng xem trọng, vô cùng tôn sùng.

Tiếp theo nói: “Tả sử hữu sử, ký sự ký ngôn, tả sử ký sự, hữu sử ký ngôn”. Đây là trong bài “Lễ ký - Ngọc Tảo” có viết. “Hán Thư - Nghệ Văn Chí” thì nói là: “Tả sử ký ngôn, hữu sử ký sự”. Chẳng qua việc này chính là nói với chúng ta phải đặc biệt xem trọng việc ghi chép lại những giáo huấn tốt đẹp này, ghi chép những sự đáng quý này lại để khởi phát cho người đời sau.

Trong “Quần Thư Trị Yếu”, khi đề cập đến trong “Sử Ký” có nói: “Thiên tử vô hý ngôn”. Thiên tử là không thể nói lời đùa giỡn. “Ngôn tắc sử thư chi”, vì vừa nói ra thì quan chép sử đã ghi chép lại rồi. Sau đó: “Lễ thành chi, nhạc ca chi”, những sự việc mà ông nhận lời thì đều dùng lễ nghĩa để mà hoàn thành. Bởi vì ông nói ra là phải làm, cho nên bá tánh bội phục đức hạnh của ông, sau đó còn dùng những bài hát để ca tụng cái đức của thiên tử. Cho nên làm Hoàng đế không hề đơn giản, vừa mở miệng, bên trái thì ghi lại việc làm, bên phải thì ghi lại lời nói. Có như vậy thì một người ở quyền vị tối cao mới không dám buông lung theo dục vọng. Vì sao vậy? Vì “Ta không thể để tiếng xấu cho nghìn năm sau”. Cho nên đối với một người lãnh đạo, việc kế thừa tiếp nối những cổ thư lịch sử này lợi ích hậu thế, đồng thời tự mình chịu trách nhiệm với chính mình, chịu trách nhiệm đối với lịch sử. Đây là thái độ đáng quý của người xưa. Bạn xem, người hiện tại chúng ta thường hay phung phí cuộc đời như vậy, lãng phí thời gian như vậy, còn kém rất xa đối với người xưa.

Tiếp đến lại nói: “Giai sở dĩ chiêu đức tắc vi, khuyên thiện trừng ác”. Ghi chép lời nói việc làm lại mục đích để làm gì? “Chiêu đức”. “Chiêu” là nổi bật. Thông qua những giáo huấn và lịch sử được ghi chép lại này nổi bật vấn đề đạo đức. Ghi chép lời nói là lý luận, ghi lịch sử là biểu diễn ra những tấm gương thật sự đã làm được. Vả lại, “tắc vi”; “tắc chính là ngăn chặn, “vi” chính là tà ác, là sai lầm. Phải lấy những thứ không đúng đó làm gương, về sau không tạo nữa, không nên dẫm lên vết xe đổ. Chữ “tắc vi” này là lấy việc trước để rút kinh nghiệm cho việc sau, vả lại có thể đi đến chỗ thưởng thiện - phạt ác. Cái tốt thì phát dương lưu truyền, mọi người noi theo học tập. Cái không tốt ghi chép lại, mọi người lấy đó làm gương, không dám làm giống như họ.

Bạn xem, Đổng Trác loạn quyền, sau cùng lịch sử ghi chép lại, chết không có đất chôn. Chết rồi, lão bá tánh đã đào xác của ông lên để đốt làm đèn, hận ông đến tận xương tủy. Ông khi chết thương tích đầy mình. Có một thuộc hạ đem ông chôn xuống đất, thế nhưng sau khi chôn thì trời đổ mưa, sét đánh xuống. Cú sét đã đánh bể quan tài của ông, sau đó thì bị nước cuốn trôi đi. Cho nên làm nhiều điều bất nghĩa là tự đẩy mình vào chỗ chết, sau cùng đúng là ngay cả nơi chôn thân cũng không có, vì đã tạo ra tội lỗi quá lớn, trời đất không dung. Một ví dụ như vậy thật sự là khiến cho người người đều lấy đó làm gương, bao gồm cả việc khi đó Khổng Tử viết “loạn thần tặc tử cụ” trong “Xuân Thu”. Khổng Tử vừa viết tên họ thì nghìn vạn đời sau vẫn còn mang tiếng xấu. Cho nên, “trừng ác”.

“Cố tác nhi khả kỷ, huân phong dương hồ bách đại”. Vào thời đại đó, hành vi của ông, việc làm của ông, chữ “kỷ” này là có thể vì pháp luật, có thể vì việc người đời sau sẽ noi theo, cho nên đã mau chóng ghi chép trở lại, vậy thì họ mới như cơn gió xuân ấm áp, mới có thể truyền dương trăm đời. Cũng giống như hiện nay chúng ta đọc những sách lịch sử này vậy, mấy nghìn năm trước đều đọc được, đều có thể học tập.

“Động nhi bất pháp”, hành vi của họ không phù hợp pháp lý, không phù hợp đạo lý. “Quýnh giới thùy hồ thiên tự”, cũng đem ghi chép lại. Chữ “quýnh” này nghĩa là rất rõ ràng, khuyên răn một cách rõ ràng, khuyên bảo người của mấy nghìn năm sau. Cũng giống như “Đệ Tử Quy” nói: “Thấy người hiền nghĩ việc hiền, thấy không phải hiền trong lòng phản tỉnh”, noi gương như vậy.

Cho nên: “Thị dĩ lịch quan tiền thánh”, quan sát các đời cổ Thánh tiên Vương. “Phủ vận ưng kỳ, mạc bất lẫm hồ ngự hủ”. Chữ “phủ vận” này ý nghĩa chính là thuận theo thời vận. Chữ “ưng” này là gánh vác; “ưng kỳ” chính là gánh vác thiên mệnh, kế thừa ngai vị thiên tử. Mỗi một vị cổ Thánh tiên Vương đều thuận theo thời tiết nhân duyên. Sau khi tiếp nhận thiên mệnh, tâm cảnh của họ rất đáng quý. Chữ “lẫm” là cảnh giác sợ hãi, giống như gì vậy? Chữ “ngự hủ” chính là cầm dây cương đã mục hỏng để đánh xe ngựa, vậy thì phải hết sức cẩn thận, nếu không thì sẽ xảy ra vấn đề, cho nên không một chút nào dám buông lung chính mình. Đây đích thực là thái độ khắc cốt ghi tâm.

Không những thiên tử phải có thái độ thận trọng như vậy, kỳ thực ngày nay chúng tôi tiếp nối truyền thừa văn hóa truyền thống, chúng tôi đang làm công tác hoằng dương, rất nhiều người đến xem chúng tôi, chúng tôi phải dẫn đầu, không thể dẫn dắt sai đường được. Không thể bởi vì chúng tôi được học sớm mà kiêu căng tự phụ, như vậy thì đã lạc vào tà đạo rồi. Chúng tôi vẫn là phải có thái độ “lẫm hồ ngự hủ” như vậy. Như nước trên băng mỏng, không dám sơ sài, không dám buông lung lời nói việc làm của mình, luôn kỳ vọng chính mình. “Động nhi thế vi thiên hạn đạo, hành nhi thế vi thiên hạ pháp, ngôn nhi thế vi thiên hạ tắc”, như vậy thì có thể “tự cường bất tức”, chính là cả ngày đều rất cần cù. “Kiền kiền kịch thích”, nghĩa là không dám buông lung giải đãi. “Nghĩa tại tư hồ”.

Những cổ Thánh tiên Vương này vì sao lại có thể tự mình vươn lên như vậy? Cần cù không giải đãi. Nhất định chính là họ có trách nhiệm đối với lão bá tánh, có trách nhiệm đối với đời sau, cho nên họ mới có sự cẩn thận đến như vậy, có cái đức phong như vậy. Cũng giống như Văn Thiên Tường đã nói: “Lưu chút lòng son chiếu sử xanh”. Có tấm lòng như vậy, cho nên những cổ Thánh tiên Vương này phải làm gương, còn đem những Kinh điển tốt và lịch sử để truyền lại cho đời sau. Chúng ta hiện nay tuy rằng không phải làm quan, nhưng đối diện với vấn đề truyền thừa văn hóa, chúng ta cũng phải có tấm lòng như vậy, mỗi lời nói việc làm đều làm gương, tiếp đến cố gắng dốc sức tiếp nối kế thừa văn hóa.

Chúng ta xem đoạn tiếp theo: “Cận cổ hoàng vương, thời hữu soạn thuật”. Thời cận đại tương đối gần với thời của họ, những đế vương này cũng thường có hành động biên soạn Kinh điển. “Tính giai bao quát thiên địa, lao lung quần hữu”, vả lại nội dung mà họ thu thập có thể xem như bao gồm cả trên trời dưới đất đều có. Chữ “lao lung” này là bao quát, bao hàm. “Quần hữu” là chỉ vạn vật trong vũ trụ này, thật sự là thu tập được vô cùng phong phú, khách quan. Tuy thu tập được rất nhiều, nhưng “cánh thái phù diệm chi từ”. Chữ “cánh” này chính là cạnh tranh, giống như đã hình thành một loại nếp sống, đều áp dụng hào nhoáng bên ngoài, chỉ là thuật ngữ, văn phong hoa mỹ.

“Tranh trì vu đản chi thuyết”, nghĩa là tranh đoạt mưu cầu theo đuổi những sự việc hoang đường vô lý, ghi chép lại.

“Sánh mạt học chi bác văn”. Chữ “mạt học” này nghĩa là tương đối nông cạn, không có nắm được học vấn căn bản. Học ngược lại, lại khoe khoang, giống như cảm thấy chính mình thật sự học sâu hiểu rộng. Kỳ thực, hiện tượng này rất có khả năng.

Người xưa đối với phương diện trị học thì họ xếp đức hạnh là hàng đầu, không phải xếp ngôn ngữ văn chương làm đầu. Cho nên trong “Đệ Tử Quy” nói: “Có dư sức thì học văn”. Nền tảng đức hạnh không có, đọc sách nhiều đều là để đem khoe khoang, vậy thì thật không tốt. Cho nên thời đại khi đó, đặc biệt là thời Nam Bắc triều (Ngụy Tấn Nam Bắc triều), đặc biệt là văn phong đều trở thành chú trọng cân nhắc vấn đề văn từ hoa mỹ, tạo thành việc xem trọng văn Biền Ngẫu. Xem trọng những kỹ năng này mà xem nhẹ đức hạnh, cho nên mới có những văn nhân thời Đường Tống chấn hưng lại cổ văn, không đi theo lối sống không tốt đó nữa. Cho nên gọi là Đường Tống bát đại gia, hiển chánh phá tà, dùng văn chương diễn đạt đạo lý, làm sao lại đem đi khoe khoang văn phong hoa mỹ.

Tiếp đến lại nói: “Sức điêu trùng chi tiểu kỹ”. Đây đều là việc che đậy học thức nông cạn của chính mình mà bản thân chính mình còn chưa phát giác, vẫn là dương dương tự đắc, lưu luyến không rời, là “lưu đãng vong phản”, “thù đồ đồng chí”. Nghĩa là những thứ mà họ thu thập được rất là rộng rãi, sau đó văn chương phơi bày ra thì rất là hoa hòe phù phiếm. “Thù đồ” nghĩa là biểu hiện ra hình thức không như nhau; “Đồng chí”, nhưng thực chất gần như nhau, đều không phải là học vấn có thể trị nước tế thế coi trọng thực tế, không có cách nào để an định xã hội. “Tuy biện châu vạn vật, dũ thất tư khế chi nguyên”, tuy rằng dường như những trước tác luận thuật này mang tính tri thức rộng khắp nhiều phương diện, rất tường tận. “Thuật tổng bách đoan”; chữ “thuật” có lẽ là phương pháp sáng tác, phương pháp sử dụng để sáng tác rất nhiều, kỹ xảo biểu hiện ra cũng rất nhiều.

“Quai đắc nhất chi chỉ”, bởi vì cách mà họ thể hiện rất nhiều nhưng vẫn là thổi phồng. Khổng Tử nói: “Từ đạt nhi dĩ hỷ”, bất luận là ngôn ngữ hay văn chương, quan trọng nhất vẫn là đem nghĩa lý của nó nói rõ ra, không phải là để khoe khoang văn chữ. Chữ “quai” này là làm trái ngược, kỳ thực là bỏ gốc lấy ngọn. “Đắc nhất”, chữ “nhất” này kỳ thực là được đạo. Bạn không thể trái nghịch với đạo. Mạnh Tử nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỷ”, tất cả đạo đức văn chương đều là phải hồi quy bổn tánh, trừ bỏ tập khí. Đây mới là tông chỉ quan trọng nhất của học vấn. Tâm thái mà không đúng thì rất khó có thể thu thập được những cổ tích tốt phù hợp với đạo đức, phù hợp với việc trị nước tế thế lý luận thực tiễn, hiệu quả thực tế họ sẽ không biên soạn ra được.

Chúng ta hãy xem đoạn tiếp theo.

“Hoàng thượng dĩ thiên tung chi đa tài, vận sanh tri chi duệ tư, tánh dữ đạo hợp, động diệu cơ thần”. Chúng ta vừa mới nói đến nhìn thấy việc tốt thì tùy hỷ tán thán, cho nên Ngụy đại nhân cũng là tùy hỷ tán thán những phẩm chất tốt của Hoàng thượng. Trong “Hiếu Kinh” có nói: “Sự quân chương, tiến tư tận trung, thối tư bổ quá, tương thuận kỳ mỹ”. Hoàng thượng có tâm cảnh tốt đến như vậy, có chí hướng to lớn đến như vậy, toàn tâm toàn lực tùy hỷ thành tựu cho ông. Sự tán thán này có thể khích lệ cho Hoàng thượng, và đương nhiên Ngụy thừa tướng là một người rất trí tuệ, vừa cổ vũ mà cũng vừa thúc giục Hoàng thượng. Ví dụ như ông nói với Hoàng thượng: “Nếu đã bắt đầu thì không nên bỏ cuộc na chừng”. Có không ít người tuy rằng có sự mở đầu tốt, nhưng rất ít người có thể trước sau vẹn toàn. Sau khi khích lệ đồng thời cũng kỳ vọng, nhắc nhở phải luôn giữ gìn.

Chân thật là Thái Tông Hoàng đế cũng có thiên chất rất thông minh, đa tài đa nghệ, học cái gì cũng rất nhanh.

“Vận sanh tri chi duệ tư”. Chữ “sanh tri” này chính là ông vận dụng những thiên phú tốt đẹp vốn có của mình, suy nghĩ cặn kẽ khi đối diện với sự việc. “Tánh dữ đạo hợp”, tán thán Thái Tông bản tánh thiện lương, tương ưng với thiên đạo. Ông trời có đức hiếu sinh, bản tánh tương hợp với thiên đạo mà còn “động diệu cơ thần”, tất cả những hành vi động tác đều là rất tinh vi thần diệu. Có lẽ đều đã tỉ mỉ suy nghĩ một cách thấu đáo, có thiên bẩm tốt lại thêm việc chịu hạ công phu, biết suy nghĩ cho nhân dân cho nên đã đạt được hiện trạng chính trị như thế nào.

Tiếp theo nói: “Huyền đức tiềm thông”. “Huyền đức” là chỉ đạo đức sâu dày của Hoàng thượng trong âm thầm đã cải thiện được nếp sống của xã hội. Chúng ta phải nên hiểu, loạn thế một - hai trăm năm, sau đó Đại Đường dưới sự trị vì của Thái Tông Hoàng đế thì tất cả đã an định trở lại, thật sự trong một khoảng thời gian rất ngắn thì quốc thái dân an, xã hội an định trở lại. “Hóa tiền vương chi sở vị hóa”, nghĩa là tán thán tình trạng này của Đại Đường vượt qua cả những sự an định mà các đời vua trước đạt được, vượt hơn các vị quan đời trước trong việc trị lý tình hình xã hội.

“Tổn kỷ lợi vật, hành liệt thánh chi sở bất năng hành”. Các vị xem trong phần lời nói, Ngụy đại nhân niệm niệm đều là thành tựu Quân vương trở thành Thánh vương. Thần tử như vậy là một đại trung thần, hy vọng đức hạnh của Thái Tông Hoàng đế có thể sánh ngang với cổ Thánh tiên Vương, khẳng định Thái Tông là “tổn kỷ lợi vật”, chính là o ép chính mình lợi ích cho bá tánh, như vậy cũng như đã hoàn thành được sự nghiệp mà các Thánh Hiền đời trước chưa hoàn thành được. Những tiên vương này đều là học trò của Khổng Tử, họ có thể lấy “lễ vận đại đồng thiên” làm lý tưởng. Đó chính là học trò tốt của Khổng Tử, thật sự đã làm được, đích thực là làm được những việc mà Thánh Hiền đời trước chưa làm được, như vậy thì Phu Tử ở trên trời có linh thiêng thì cũng cảm thấy an ủi. Chữ “tổn kỷ lợi vật này” đích thực cổ Thánh tiên Vương đều đã thực tiễn được vô cùng triệt để. Cũng như khí phách của Đại Vũ ở trong “Luận Ngữ”, Phu Tử đã tán thán là: “Ta thật không tìm ra được chỗ không tốt của Đại Vũ”. Ông tự mình sống thật sự là không tốt, chịu thiệt thòi, đem số tiền tiết kiệm được đi làm các công trình thủy lợi để cho lão bá tánh trải qua cuộc sống tốt đẹp. Tự mình ăn uống không ra làm sao, nhưng khi tế bái tổ tiên thì đều vô cùng chân thành, vật phẩm thiết lễ đều rất phong phú. Bản thân ăn mặc quần áo rất mộc mạc, nhưng khi thượng triều thì đều ăn mặc vô cùng long trọng. Đó chính là cung kính đối với thần dân.

Tiếp theo lại nói đến: “Hàn hải long đình chi dã, bính vi quận quốc”. “Hàn Hải” là chỉ tên của vùng Bắc Hải, hoặc là chỉ sa mạc Gobi, kỳ thực chính là chỉ dân tộc phương Bắc, cũng giống như Hung Nô. Những dân tộc thiểu số này, bính vi”; chữ “bính” này chính là quy phục sát nhập Đại Đường thành chung bờ cõi, trở thành một quận của Đại Đường, thành một số khu hành chính.

“Phù Tang nhược mộc chi vực, hàm tập anh miện”. Chữ “Phù Tang” này là tên một nước ở phía Đông thời xưa, là tên một quốc gia. “Phù Tang nhược mộc”, vốn ban đầu là chỉ cây, sau đó đều dùng để chỉ tên của quốc gia, đại biểu rất nhiều quốc gia trên thế giới. Kỳ thực dân tộc quốc độ của những bộ lạc Đông - Tây này, hàm” chính là hết thảy, “tập” là chỉ quần áo mà họ mặc, chế độ phong tục của họ đều noi theo Đại Đường, như loại nón chụp đầu hay nón cột quai, bởi vì chế độ phong tục cũng là một cách thể hiện văn hóa.

Kỳ thực, đoạn này chúng ta từ trong lịch sử chứng minh được Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, rất nhiều những nước láng giềng đã cử phái rất nhiều học trò đến học tập văn hóa của Triều Đường, thậm chí là làm theo một số phương thức trong đời sống, cho nên “thiên địa thành bình”, thiên hạ thái bình. Hoàng đế Thái Tông được người của các nước trên thế giới phong là Thiên Khả Hãn, là cộng chủ của thiên hạ.

“Ngoại nội tri phúc”. Chữ “tri” này có nghĩa là an vui yên bình, trong ngoài nước đều an vui hạnh phúc, có thể đạt đến sự thịnh thế như vậy. Thái Tông còn do thư vi nhi bất thị”, làm được nhưng vẫn không  thấy mình cao, không lấy đó làm tự mãn. “Tuy hưu vật hưu”, có thể trị vì thiên hạ đạt đến công lao sự nghiệp như vậy không đơn giản, có lẽ có thể nghỉ hưu được rồi nhưng vẫn rất cần cù không giải đãi. “Phủ hiệp Nghiêu Thuấn, thức tuân kê cổ, bất sát mạo hồ chỉ thủy, tương cử giám hồ triết nhân”. Không dám buông lung mà còn “phủ hiệp”. Chữ “phủ” này là ngưỡng vọng, tôn sùng, chính là noi theo Nghiêu Thuấn, sau đó học tập. Chữ “thức” này chính là ý nghĩa noi theo, học tập, tôn sùng những cổ Thánh tiên Vương. Chữ “kê” này chính là khảo sát, tìm hiểu khí phách của họ, tiếp đến là đi theo họ. Còn chữ “bất sát” chính là không những chỉ việc soi chiếu dung nhan của mình trên mặt nước phẳng lặng, mà còn thêm một bước nữa “cử giám hồ triết nhân”, chính là lấy những Thánh Hiền nhân làm gương cho chính mình, ngày ngày học tập noi theo họ. Cho nên cái này gọi là “Đức bì ư thượng tắc tri sỉ”. Ông lấy thánh nhân làm gương, mỗi ngày hổ thẹn, mỗi ngày quán sát điều chưa đủ, mỗi ngày nâng cao, cho nên thật sự là không dễ dàng.

“Vi nhi bất thị”, “tuy hưu vật hưu”, chính là ông chí tại Thánh Hiền, không hề tự mãn. Dù Thái Tông Hoàng đế noi theo vua Nghiêu Thuấn, ông muốn “giám hồ” những vị thánh nhân này, lấy họ làm tấm gương, ông đã thu thập những điển tích này. “Dĩ vi”, trong quá trình thu thập, Thái Tông Hoàng đế đã cảm nhận được “lục tịch phân quan”. Giáo huấn trong lục Kinh vẫn là tương đối nhiều. Kinh còn cả sử, bao hàm cả chư tử, gọi là “Bách Gia Suyễn Bác”. Đây là Bách Gia Chư Tử vô cùng không thống nhất, cảm thấy dường như không biết làm sao để mà nắm được cương lĩnh, làm sao để bắt đầu. Để có thể thấu đáo đến tận cùng lý lẽ chính là thâm nhập những Kinh điển này. Bởi vì nó quá kềnh càng, dụng công cũng không thể thuần nhất. Việc cầu học vấn quan trọng nhất là phải “nhất môn thâm nhập”, phải quý ở chuyên. Bạn mà học quá hỗn tạp thì dường như cũng không nắm được tinh túy của nó. Nắm không được cương lĩnh thì sẽ rất khó đạt được đến chỗ tột cùng của lý lẽ, những nghĩa lý đó bạn sẽ không thể nào thông thấu được. Do đó, cảm thấy làm mà không có hiệu quả, bỏ ra rất nhiều tinh thần, cảm thấy không đúng phương pháp, không thể có được lợi ích. “Châu lãm phiếm quan, tắc bác nhi quả yếu”, chỉ cần xem đọc rộng rãi, tiếp thu, cảm thấy dường như rất sâu rộng, nhưng lại không nắm được cương yếu. Đích thực chúng ta nhìn thấy chỗ này, ở tại thời đại của chúng ta cũng có cảm giác này.

Bạn nói xem, “Tứ Khố Toàn Thư” 1.500 quyển, từ đâu mà bắt đầu? Không phải Sư trưởng nói đó là hạ thủ từ “tam căn” sao? Chúng ta thật sự là không thể tìm được cửa ra. Giáo sư Thang Ân Tỷ đã nói hơn ba mươi năm rồi, xã hội càng ngày càng loạn. Ông nói không sai, nhưng chúng ta không có trí huệ, không thể đọc hiểu hết tất cả được. Vừa nghĩ đến học thuyết Khổng Mạnh thì nói đến “Tứ Thư Ngũ Kinh”, “Thập Tam Kinh”. Đó chỉ là hoa quả. Hoa quả là mọc ra từ cành nhánh, cành mọc từ thân, thân lên từ gốc, gốc lại ra từ rễ. Bạn phải có gốc rễ thì học vấn của bạn mới có nước để sống. Đó là từ tam căn mà hạ thủ.

Tiếp đến nói: “Con người có thiện nguyện thì trời tất sẽ thuận theo”. Từ “Quần Thư Trị Yếu” mà bắt đầu, từ “Quốc Học Trị Yếu” mà bắt đầu thì có thể nắm được cương lĩnh. “Cố viên mệnh thần đẳng”, thế là đã ra lệnh cho ta và mấy vị đại thần “Thái trích quần thư”. Chữ “thái trích” này nghĩa là tuyển chọn trích dẫn, chọn lọc ghi chép lại bộ phận tinh yếu trong “Quần Thư”.

Chúng ta cũng vừa mới nói đến hơn 14.000 bộ sách, trong số hơn 89.000 quyển tuyển chọn ra 500.000 chữ, đích thực là công đức vô lượng. Chúng ta thật sự rất cảm ơn những người trong nhóm đó của Ngụy Thừa tướng mà “tiễn tiệt dâm phóng”. Chữ “tiễn tiệt” này là loại trừ những cái viển vông không thực tế. Đối với tu - tề - trị những bộ phận không tương ưng thì đều loại bỏ hết, sau đó lại hy vọng có thể “quang chiêu huấn điển”. Chữ “quang chiêu” này chính là phát dương quang đại, hy vọng thu thập lại những tinh hoa này để cho hiện tại và đời sau, những người lãnh đạo và những người có duyên sau khi xem xong có thể nắm được những cương lĩnh này, tiếp đến là có thể đem những học vấn này phát dương quang đại.

Chúng ta xem đoạn kế tiếp: “Thánh tư sở tồn, vụ hồ chánh thuật”, cũng có nghĩa là ý muốn của Hoàng thượng. Chữ “vụ” này chính là ông rất xem trọng, đó là “chính thuật”, là kế sách chung để trị vì đất nước. “Xuyết tự đại lược”, chúng ta từ trong “Quần Thư” chọn lấy ra những phương sách quan trọng này, những trọng điểm này.

“Hàm phát thần trung”. Chữ “hàm” này chính là đều phát xuất từ ý chỉ của Hoàng thượng, y theo mong muốn của Hoàng thượng là những học vấn về tu - tề - trị - bình. Chữ “thần trung” này, “trung” là nội tâm, vì đây là nội tâm của thần minh. Đây cũng là việc tán thán Thái Tông Hoàng đế, y theo ý chỉ của Hoàng thượng mà biên soạn ra.

“Nhã chí câu thâm”. Chữ “nhã chí” này là chỉ những bộ phận tuyển chọn ra này đều rất tinh hoa, rất nho nhã. “Câu thâm” là chỉ những giáo huấn này đều là những tư tưởng hết sức sâu sắc.

“Quy mô hoằng viễn”. “Quy mô” cũng có nghĩa là bắt chước làm theo Thánh Hiền nhân đã hoằng truyền đại chí hướng sâu xa. “Võng la trị thể”, bao hàm thu thập đều là những thứ trị quốc.

“Sự phi nhất mục”, chính là cái được thu thập nhất định không chỉ là “nhất mục”, chính là không chỉ ở một góc độ hay một phương diện nào, không cục bộ mà là rộng khắp, thu thập từ nhiều phương diện.

“Nhược nãi khâm minh chi hậu, khuất dĩ dĩ cứu thời”. Trong nội dung của việc thu thập này, ví dụ như nói, nếu như “khâm minh”, chính là vị quân vương này là một người vô cùng cung kính nghiêm túc, là một quân vương thánh minh. Ông trị quốc chính là “khuất dĩ dĩ cứu thời”, dành thiệt cho mình, lợi ích cho bá tánh. Đây là trong tự thuật, trong cả nội dung thu thập, đem những thứ “khuất dĩ cứu thời” thu thập những tấm gương này lại. Cũng thu thập “vô đạo chi quân”, là những quân vương không tuân thủ chánh đạo. “Lạc thân dĩ vong quốc”, tham muốn hưởng lạc, nô dịch bá tánh, sau cùng mất nước. Hoặc là: “Lâm nan nhi tri cụ, tại nguy nhi hoạch an”, những vị lãnh đạo này đến lúc lâm nguy có thể biết hoảng sợ, phản tỉnh chính mình để mà ứng phó, ngược lại có thể chuyển nguy thành an. “Hoặc đắc chí nhi kiêu cư”, sau khi có một số thành tích ngược lại biến thành kiêu ngạo. Sau cùng: “Nghiệp thành dĩ chí bại giả”, không giữ được công danh sự nghiệp, sau cùng thất bại mất nước. “Mạc bất bị kỳ đắc thất dĩ trước vi quân chi nan”, đều đem những ví dụ tốt đẹp này, những ví dụ về thành công và thất bại thu thập trở lại, xem rồi có thể được ấn chứng. Cho nên, chân thật người làm vua cũng không dễ dàng.

Tiếp theo lại nói đến: “Kỳ ủy chất sách danh”. Chữ “ủy chất” này nghĩa là chỉ phụng hiến. Vì vua, vì nước phụng hiến chính mình. “Lập công thụ huệ”, xây dựng sự nghiệp, thi ân cho bá tánh. Bởi vì là trung thần, trung thần cụ thể chính là lợi ích cho bá tánh. “Trinh tâm trực đạo”, vô cùng trung trinh chánh trực. “Vong khu tuẫn quốc”, vì quốc gia, vì nhân dân có thể sát thân thành nhân hy sinh vì nghĩa lớn.

“Thân vẫn bách niên chi trung”. Cái “bách niên chi trung” này chỉ chính là vào thời đại đó, khi ông đã chết đi rồi. “Thanh trì thiên tải chi ngoại”, nhưng tấm gương của ông, mỹ danh của ông đã truyền được qua mấy nghìn năm đều vẫn đang được người ta ca tụng và noi theo. Cho nên có người chết đi mà nhẹ tựa lông hồng, có người nặng như thái sơn.

“Hoặc đại gian thần hoạt”, những đại gian thần này, “chuyển nhật hồi thiên”, khi họ nắm quyền, quyền hành khuynh đảo vua và dân, cũng như là tráo trở lật lọng, đảo loạn hết cả triều cương. “Xã thử thành hồ” này chính là hình dung việc cậy thế ức hiếp người khác. “Xã thử” chính là loài chuột ở trong các chùa miếu, “thành hồ” chính là hồ ly ở trong miếu thành hoàng, là sự cậy quyền hiếp người, muốn làm gì thì làm. “Phản bạch ngưỡng hắc”, chính là điên đảo thị phi, chánh tà. “Trung lương do kỳ phóng trục”, người trung lương thì bị họ hãm hại, bị lưu đày. “Bang quốc nhân dĩ nguy vong giả”, cả quốc gia đều bị nguy hiểm. “Hàm diệc thuật kỳ chung thủy, dĩ hiển vi thần bất dị”, đem những tình trạng về gian thần ghi chép trở lại, cũng thể hiện rõ làm một trung thần không phải dễ.

Trong “Xuất Sư Biểu” có nói: “Thân hiền thần, viễn tiểu nhân, thử tiên hán chi sở dĩ hưng long dã, thân tiểu nhân, viễn hiền thần, thử hậu hán chi sở dĩ khuynh đồi dã”. Cho nên sự hưng suy của một quốc gia đều xem ở việc có dùng trung thần hay không, có tránh xa tiểu nhân hay không.

“Kỳ lập đức lập ngôn, tác huấn thùy phạm, vi võng vi kỷ, kinh thiên vĩ địa, kim thanh ngọc chấn, đằng thực phi anh”. Đây đều là tán thán hiền quân, hiền thần. Họ lập đức lập ngôn, làm gương cho hậu thế. Hành vi của họ, tư tưởng của họ đều trở thành kỷ cương cho hậu thế, thành tiêu chuẩn làm người. Cũng giống như Chu Công viết ra Chu Lễ, việc chế lễ tác nhạc ấy đã trở thành cương lĩnh xử lý chính sự quan trọng nhất trong nhiều thế hệ. “Kinh thiên vĩ địa”, kỳ thực chính là việc trị lý cả triều chính của quốc gia. “Kim thanh ngọc chấn”, những mỹ danh, đức phong của họ giống như lời vàng tiếng ngọc vậy. “Đằng thực phi anh”, đây là chỉ công lao thành tích của họ đều được truyền dương đi. “Nhã luân huy du”, những ngôn luận mẫu mực chính trực của họ, bao hàm cả cách làm thiện mỹ của họ và cả những mưu lược vì quốc gia của họ. Những cái này đều là thuộc về “huy du”, đều có thể làm phép tắc cho đời sau. “Gia ngôn mỹ sự”, những ngôn luận thấu đáo, khí phách của họ có thể làm tấm gương cho hậu thế.

“Khả dĩ hoằng tưởng danh giáo, sùng thái bình chi cơ giả, cố diệc phiến thiện bất dị, tương dĩ phi hiển hoàng cực”, nghĩa là thu thập những khí phách lịch sử tốt đẹp này. Chữ “hoằng tưởng” chính là có thể giúp đỡ tất cả, “danh giáo” chính là tất cả sự phát dương quang đại của giáo dục Thánh Hiền. Vả lại: “Sùng thái bình chi cơ giả” nghĩa là những giáo huấn này có thể tăng cường sự an định cho cả quốc gia xã hội, cho dù có một câu chữ nào đó bị bỏ sót thì cũng đem chúng thu thập trở lại, như vậy thì mới thật sự hiện rõ được chuẩn mực pháp tắc mà Hoàng thượng thống trị thiên hạ.

“Chí ư mẫu nghi tần tắc, ý hậu lương phi”, nghĩa là những mẫu hậu, hoàng hậu, những tấm gương của hậu cung cũng có sưu tập vào. “Tham huy du ư thập loạn”, những vị hoàng hậu, phi tử có đức độ cũng là phò trợ cho Hoàng thượng trị lý tốt hậu cung. “Thập loạn” chính là chỉ nhà Chu có mười người loạn thần, trong đó có một người là nữ, chính là chỉ Hoàng hậu. Có hai cách nói, một cách nói là chỉ người vợ của Văn Vương, còn cách nói khác thì chỉ người vợ của Vũ Vương. Đây đều thể hiện rõ sự quan trọng của bậc mẫu nghi thiên hạ. “Trước thâm giới ư từ liên”, trong số những tấm gương này có một người chính là phi tử của Hán Thành Đế, gọi là Ban Tiệp Dư.

Hoàng đế có một lần bảo bà ngồi lên xe kiệu của mình, Ban Tiệp Dư đã từ chối, nói: “Trong những bức họa lưu lại từ xưa tới nay chỉ nhìn thấy có quân vương ngồi cùng xe với các vị minh thần, trung thần, không có bức họa nào vẽ Ngài cùng vợ ngồi trên xe kiệu cả”, thế là bà không nhận lời mời lên xe kiệu của Hoàng đế. Hán Thành Đế sau khi nghe xong thì rất vui, rất bội phục người phi tử này của mình.

“Hoặc khuynh thành triết phụ, vong quốc diệm thê, hậu thần kê dĩ tiên minh, đãi cử phong nhi hậu tiếu giả, thời hữu sở tồn, dĩ bị khuyến giới”. Những hậu phi lộng quyền ở hậu cung đã tạo ra nguy nan cho cả đất nước, sau đó tham gia chính sự nắm quyền. Có đưa ra ví dụ vụ Bao Tự đốt lửa báo cho chư hầu, sau cùng mất nước. Những lịch sử này bao gồm những việc phát sinh vào lúc đó đều ghi chép lại để khuyên bảo cho hậu thế.

“Viên tự lục Kinh, hất hồ chư tử”, chính là nội dung đã tuyển chọn ra từ trong lục Kinh lấy ra tất cả ghi chép của Chư Tử, lựa chọn ra phạm trù, chính là “Kinh Sử Tử”. Thời gian lựa chọn là: “Thượng thủy ngũ đế, hạ tận Tấn niên”. Nếu theo như vậy mà tính thì có lẽ cũng khoảng 3.000 năm lịch sử. “Phàm vi ngũ dật”, đem nó biên soạn thành năm quyển lớn. “Hợp ngũ thập quyển”, một quyển có khoảng chừng 10.000 chữ, cũng khoảng hơn 500.000 chữ.

“Bổn cầu trị yếu”. “Bổn cầu” này nghĩa là mục đích, chính là thâm nhập tìm tòi những yếu lĩnh của việc trị nước. “Cố dĩ trị yếu vi danh”, việc thu thập này đều là vì để nắm được cương yếu của việc trị quốc - bình thiên hạ, cho nên liền lấy “trị yếu vi danh”. Trong số quần thư đó đều là cương lĩnh quan trọng nhất của việc Tu - Tề - Trị - Bình, đem chúng hội tập trở lại.

Từ đoạn lời tựa này của Ngụy Thừa tướng, chúng ta có thể cảm nhận được những vị thánh nhân này, thậm chí là nhiều đời nhiều thế hệ của chúng ta đã rất yêu thương đối với đời sau, đều mong muốn để lại ơn trạch cho đời sau. Từ trong gia đình mà nói, có cha mẹ nào mà lại không muốn đem những trí huệ và kinh nghiệm tốt đẹp để truyền lại cho con cháu đâu chứ. “Người cho con một nhà tiền, ta dạy con một bộ Kinh”. Đối với gia đình, đối với quốc gia dân tộc đều rất có sứ mệnh cảm, cho nên biên soạn bộ sách này lợi ích cho đương thời mà cũng để lợi ích cho hậu thế.

Chúng tôi cũng hy vọng chúng ta thông qua việc cùng nhau học tập kế thừa cũng có thể khiến cho Thái Tông Hoàng đế, Ngụy Đại Nhân, những vị Thánh Nhân đã có lòng để lại ơn trạch cho đời sau có thể thông qua sự hoằng dương của chúng ta mà được phát dương quang đại hơn nữa, để cho nền văn hóa truyền thống dân tộc được chấn hưng, để cho con cháu đời sau có thể thật sự trải qua được những ngày tháng hạnh phúc tốt đẹp. Cũng có thể thông qua những lời dạy này mà có thể lan rộng ra để khắp thế giới được an định, được hài hòa trong tương lai. Chúng ta tri phước, tiếc phước, trân quý cái phước báo này để gây tạo cho gia tộc, cho quốc gia xã hội và cả tạo cho thế giới được hạnh phúc và lợi ích lớn hơn nữa.

Hôm nay chỉ xin giao lưu với mọi người đến đây. Xin cảm ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 3 và 4)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 49


Hôm nayHôm nay : 3829

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 228580

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10886623

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?