Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 33 - 34)

Thứ hai - 25/09/2017 19:31

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Các vị trưởng bối tôn kính, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Vào tháng trước, chúng tôi đã mở một tọa đàm cho sinh viên. Những sinh viên này từ lúc học mẫu giáo đến đại học, thời gian cũng mười mấy năm. Lần này lại đến tham gia khóa trình văn hóa truyền thống cũng tương đối là hiếm có. Xã hội hiện nay chủ nghĩa công lợi tương đối mạnh, họ còn có thể coi trọng luân lý đạo đức thì thật đáng quý. Có vài người còn ra về tương đối trễ.

Có một hôm sau khi ăn cơm xong, tôi và năm người bạn sinh viên cùng nhau ngồi hóng mát, tạm gác chuyn đời để trong lòng được nhẹ nhàng”. Ngồi tán gẫu với họ vào một tối thứ bảy. Hôm đó vừa học xong khóa trình về văn ngôn văn, sau khi ăn cơm xong thì ngồi với nhau nói chuyện. Tôi đột nhiên hỏi họ, chúng ta vừa mới học xong ba giờ đồng hồ, các bạn có nhớ được đoạn nào làm cho các bạn tiếp thu thể hội nhất? Tôi vừa hỏi như vậy thì có một bạn học nam ngẩn người ra, cậu trả lời không được, ậm ừ ậm à, hình như là không nhớ. Trong năm người này thì cậu ấy là người thuộc Kinh điển nhiều nhất. “Dịch kinh”, “Thư Kinh” cậu đều đọc qua mấy trăm lần. Đọc Kinh điển nhiều nhất, nhưng sau khi nghe giảng suốt ba giờ, bảo cậu ấy nói ra sự cảm ngộ sâu sắc nhất thì lại không nói ra được. Ngược lại, một bạn nam khác thì lập tức liền nói: “Vừa rồi ấn tượng sâu sắc nhất chính là “Trinh Quán Chi Trị”. Ngoài Hoàng thượng Thái Tông anh minh ra còn có trưởng tôn hoàng hậu hiền đức đã nhắc nhở khuyên can kịp thời, đúng lúc. Còn cả vị trung thần như Ngụy Trưng mới có thể thành tựu một triều đại thịnh thế như vậy”, cho nên cậu cảm thấy được thành tựu được một sự việc thì thật không dễ dàng. Cậu nói như vậy, tâm cậu có thể ngộ, sự thể ngộ này sẽ đi theo cuộc đời của cậu. Khi cậu làm một công việc ở trong một đoàn thể, cậu sẽ biết được thành tựu một sự việc không dễ dàng, không nên lôi kéo, không nên thêm phiền phức. Khi cậu cảm thấy rất nhiều điều kiện còn chưa đầy đủ, cậu có thể bao dung, cậu có thể gánh vác. Cậu đi đến một đoàn thể nào đó liền sẽ nghĩ: “Ta làm thế nào để đoàn thể này được tốt hơn”. Việc mà cậu không biết làm thì rất nhiều, lại còn gây thêm nhiều việc và sự phiền toái đối với đoàn thể và người lãnh đạo, bởi vì cậu đã thể hội được thành tựu sự việc thật không dễ dàng. Cho nên học tập quý ở tâm ngộ, sự cảm ngộ của tâm. Chúng ta đọc Kinh điển không thể lại biến thành việc chồng chất tri thức.

Các vị bằng hữu, tri thức sử dụng vào lúc nào vậy? Sử dụng vào lúc thi cử. Sau khi thi xong thì những tri thức này sẽ đi về đâu? Trả trở lại rồi. Thật ra, vào lúc nào thì mới là lúc khảo nghiệm của cuộc đời? Bất cứ lúc nào. Cho nên vào lúc nào có sự khảo nghiệm? Kỳ thực, tâm thái đúng thì đã vượt qua được bài khảo nghiệm, tâm thái không đúng thì bài khảo nghiệm coi như không đạt. Hôm nay người ta mắng chúng ta một câu, chúng ta có thể bao dung thì đã đạt rồi. Mới mắng một câu mà tính khí không kiềm chế được thì bài thi đã không đạt. Cho nên chân thật cầu học vấn là nâng cao đạo đức tu dưỡng của chính mình, đây là mục đích.

“Đọc sách chí tại Thánh Hiền”. Sự nhận biết này rất quan trọng, nhận biết sai thì sẽ sai đến cùng. Nhưng thời đại này là: “Đọc sách chí tại thi cử”, mở rộng ra nữa chính là “đọc sách chí tại trình độ”, “đọc sách chí tại kiếm tiền”. Cứ như vậy thì cuộc đời không phải mục đích vì phục vụ mà là vì kiếm tiền lợi ích bản thân. Tiếp đến, hưởng lạc là mục đích. Kết quả, vừa hưởng lạc như vậy thì cả địa cầu này cũng làm hỏng hết. Vừa hưởng lạc như vậy thì nề nếp của các ngành các nghề liền hỏng ngay, thấy lợi thì làm gì có đạo lý không quên nghĩa? Sự sai lệch trong quan niệm, tư tưởng hiện nay không thể trách con cái được, người thế hệ trước (thậm chí hai - ba thế hệ trước) có dạy dỗ tốt cho chúng chưa? Việc này quan trọng. “Người không học không biết đạo, người không học không biết nghĩa”. Chúng ta dạy trẻ thi cử, vẫn luôn cho chúng rất nhiều tri thức, cứ thêm vào. Sự nhồi nhét đó sẽ khiến cho ngộ tánh bị hỏng mất. Mọi người có quan sát xem ánh mắt của sinh viên hiện nay có sáng hay không? Vậy có thể là bị tri thức nhồi nhét làm hỏng rồi, không có dẫn dắt chúng cho tốt, thậm chí là bị dục vọng làm hỏng mất. Ánh mắt không sáng, không có thần thái. Vậy chỉ cần đều là vì thành tích, vì tiền tài, họ liền một mạch theo đuổi. Theo đuổi rồi thì lo được lo mất, rất khổ sở. Nếu như chúng ta theo đuổi công việc giáo dục có thể hiểu rõ được “giáo dã giả, trưởng thiện nhi cầu kỳ thất”, lúc nào thì dạy chúng? Bất cứ lúc nào cũng đều dẫn dắt chánh niệm, thiện niệm cho chúng. Ví dụ hôm nay thi cử xong hết rồi, tất cả bạn học trong lớp đều đã nhận được bài thi rồi, cơ hội giáo dục đã xuất hiện. Nhưng nếu như thầy cô không biết giáo dục là trưởng thiện, thì “bài thi phát xong rồi, kết thúc nhé!”. Khi bài thi phát ra xong thì một bài thi khác xuất hiện, bọn trẻ kiểm tra thành tích đã xong rồi, chúng tăng trưởng ngạo mạn: “Các bạn thi kém điểm hơn tôi, kém cỏi, tôi mới là lợi hại đây”. Chúng ngạo mạn khởi lên rồi thì chướng ngại chúng cả đời. Cho nên cha mẹ, thầy cô có dẫn dắt cho con trẻ có được tâm thái chính xác hay không, việc này rất quan trọng. Thi được tốt chúng ngạo mạn, thi được tốt thì tâm được mất sẽ càng ngày càng nặng.

Mọi người có nghe qua người có thành tích xếp phía sau thì tự sát hay không? Rất ít nghe, đều là người có thành tích hàng đầu đột nhiên không có lý tưởng, chịu không nổi. Bạn xem, hiện tại người tự sát đều là có nhà rất giàu, rất nhiều nơi rất giàu có, họ có thể đã làm rất nhiều việc, đều muốn phải yêu cầu tốt, đều muốn mạnh hơn người ta, sau cùng gặp phải một số khúc mắc thì chịu không nổi, gánh vác không nổi, tâm thái không điều phục lại được, không qua được cái cửa này. Cho nên những đứa trẻ có thành tích tốt có lúc tâm thái tố chất chưa chắc cao. Nhưng vì sao một đứa trẻ học đến đại học, chúng ta đều không để ý đến tố chất tâm lý của chúng? Rất nhiều sinh viên không gánh nổi việc thành tích thi không tốt. Khi kết thúc sinh mạng thì cha mẹ chúng cũng không thể tiếp nhận: “Con của tôi làm sao lại như vậy chứ?”. Trong quá trình trưởng thành mười mấy - hai mươi năm của chúng, cha mẹ đều không biết, đều không cảm nhận được. Điều này rất quan trọng, bởi vì sự quan tâm của chúng ta không phải là tâm của chúng, mà quan tâm điểm số của chúng, không thể hội được tình trạng tâm thái của chúng. Kỳ thực, chúng tôi dạy học ở trường có biết được tình trạng tố chất tâm lý của mỗi một đứa trẻ hay không? Cho nên, bài thi được phát trả xong thì tâm thái của học trò có chính xác hay không, hoàn toàn xem thầy cô dẫn dắt như thế nào.

Chúng ta xem những người trẻ hiện nay có mấy người có tố chất tâm lý khỏe mạnh? Cha mẹ, thầy cô đã phạm sai lầm qua vô số lần dẫn dắt cho chúng cơ hội có những giá trị quan chính xác. Thành tích thi được tốt không phải sanh ngạo mạn, không phải sanh tâm được mất mà phải sanh tâm cảm ơn: cảm ơn cha mẹ, cảm ơn thầy cô, cảm ơn những người bạn học đã từng chỉ dạy mình. Cảm ơn cha mẹ đã cho mình một thân thể khỏe mạnh như vậy, cho một thói quen học tập tốt. Chúng gặp phải vấn đề thì tâm cảm ơn không ngừng tăng trưởng, càng ngày càng khỏe mạnh. Người chịu tiếp nhận giáo dục thì phải càng ngày càng tốt chứ không phải là càng ngày càng khổ, càng ngày càng cười không nổi. Đúng khi thành tích thi cử của chúng rất tệ, chúng sẽ oán trách, oán trời trách người, chỉ trích thầy cô không biết dạy, vậy thì chúng cũng không khỏe mạnh. Giả như chúng thi không được tốt, chúng ta nói với chúng: “Biết sửa lỗi, không còn lỗi”. Rốt cuộc chưa đủ ở chỗ nào phải tìm cho ra, chúng không phải là đang chán nản rũ rượi mà là đang tự phản tỉnh. Đây mới là tố chất. “Chớ làm vội, vội sai nhiều”. Lúc thi cử có phải là rất qua loa hay không? Những điều biết được đều viết sai, lần kế tiếp không thể nóng vội như vậy. Thậm chí là sau khi viết xong còn biết kiểm tra, như vậy gọi là vạn lần không sai một. Cái này đều là thái độ làm việc.

Không thể cứ thành tích của chúng tốt hay không tốt chúng ta đều không quan tâm đến sự bồi dưỡng việc làm người, làm việc. Kỳ thực, nếu như lúc nào chúng ta cũng đều nhìn vào thành tích, nhìn vào công lợi, thì thứ quan trọng hơn trong nội tâm chúng ta rất khó nhìn thấy được. Giả như không phải hôm đó hỏi các bạn sinh viên vấn đề này, thì tôi vẫn cảm thấy cậu sinh viên ban đầu thuộc rất nhiều rất lợi hại, bởi vì cậu nói với tôi có rất nhiều bộ sách đã đọc qua hơn trăm lần. Tôi vừa hỏi như vậy xong thì nhìn thấy cậu ấy ngẩn người ngỡ ngàng, không nói ra được một câu nào, khiến tôi nhớ đến việc học tập “học quý tâm ngộ”. Những thứ dùng tâm để cảm ngộ thì cả đời sẽ không quên. “Thủ cựu vô công”, những thứ học được sẽ ghi khắc vào tâm, hóa thành lời nói hành vi thể hiện ra ở trong công việc cuộc sống. Trong việc xử sự, đối người, tiếp vật, không phải làm học thuật gì cả, đến đây không phải chỉ có nghiên cứu, như vậy không sửa đổi được cái tâm. Thậm chí trước đây là có tình trạng học tập đem Kinh điển ra làm tri thức để cho có. Những thứ không phải dùng tâm để cảm ngộ thì sẽ quên rất nhanh. Chúng ta học tập văn hóa truyền thống hai mươi mấy - ba mươi năm nay rồi, vậy câu Kinh nào đã thật sự chuyển biến được tâm thái của chúng ta, câu Kinh nào chân thật đã biến thành thái độ xử sự đối người tiếp vật của chúng ta, đây mới là chỗ nhận được lợi ích chân thật.

Cho nên, sau khi anh sinh viên nói việc thành tựu một vấn đề thì không phải dễ, sẽ thể hội được “sự phi kinh quá bất tri nan”. Chúng ta chưa thể hội qua thì sẽ không biết được mùi vị của nó, đích thực là “như người uống nước, nóng lạnh tự biết”. Nhưng hiện tại chúng ta không khéo dụng tâm, xem sự việc có lúc cũng quá bề ngoài, cho nên rất dễ dẫn đến phê bình, dễ dàng phê phán. Kỳ thực, sự việc mà chúng ta phê bình chúng ta có thể tự mình còn chưa thể hội qua, đã vậy còn hay xoi mói lỗi lầm. Thái độ này là không thỏa đáng, trong vô hình trung đã tổn đi rất nhiều phước. Phải nên luôn luôn có thể đồng tình với sự khó khăn của người khác, đây gọi là phúc hậu, là độ lượng. Có một câu nói: “Có lo việc nhà mới biết gạo quý, có nuôi con mới biết lòng cha mẹ”. Khi chúng ta làm con cái thì không vừa ý cha mẹ việc này việc kia, lúc nào mới ngộ? Khi chính mình làm cha, làm mẹ. Sự mê lầm này hết bao lâu? Đã mê được mười mấy - hai mươi năm mới hiểu. Mười mấy - hai mươi năm này đã tạo bao nhiêu là tội. Cho nên chúng ta hãy tính thử, chúng ta phải mau mau lấy công chuộc tội. Trăm thiện hiếu làm đầu, tâm hiếu này chưa thật sự phát ra, vậy là đang tích lũy ác hạnh, cuộc đời sẽ rất khó tích công lũy đức. Chúng ta tự mình chân thật làm chủ quản rồi, hồi tưởng lại khi mình còn làm công nhân viên, chủ quản ở trên nói thì chúng ta ở dưới ngồi phê bình. Tự mình chân thật làm chủ quản rồi mới biết rất nhiều sự việc thật sự không dễ dàng, mọi mặt vấn đề đều phải xử lý được thỏa đáng. Đặc biệt là thời đại này, nền tảng luân lý đạo đức của mọi người tương đối nông cạn.

Ngày trước mọi người đều có học, đều biết phải tuân thủ những thái độ về “trung hiếu tiết nghĩa”, đều biết suy nghĩ trước khi nói ra. “Nói nhiều lời không bằng ít, nói nhiều lời không bằng nói ít, nói ít không bằng không nói gì”. Nói chuyện cũng phải nể mặt người khác, không nên quá khắt khe. Những đạo lý này mọi người đều biết. Hai - ba thế hệ gần đây đã thiếu hụt luân lý đạo đức, cho nên khi mọi người không có thái độ này, lại còn phải dẫn dắt cả một đội, thì sự khó khăn của người chủ quản này sẽ càng cao hơn. Cho nên nhà Nho thường nói: “Đặt mình vào vị trí của người khác, đồng cảm với người không dễ dàng”. Cho nên, chúng ta thường có thể đặt mình vào vị trí người khác để suy nghĩ thì sự phê bình đó sẽ mờ nhạt, sự đồng tình càng lúc càng lớn.

Chúng ta xem cả đời của Khổng Lão Phu Tử. Khổng Lão Phu Tử đến cuối đời vẫn không có cơ hội để tham gia làm việc chính sự, đặc biệt là gặp nạn từ nước Trần đến nước Thái, bảy ngày không có gì để ăn. Vào lúc đó, văn hóa của cả xã hội đạo lý đều băng hoại, vì thế việc hoằng dương văn hóa đích thực độ khó rất cao. Hôm nay bản thân chúng ta tự mình đến để học tập, để thúc đẩy, thì thể hội được Khổng Lão Phu Tử vào khi đó đích thực là không dễ dàng. Vậy thì khó làm có thể làm, khó nhẫn có thể nhẫn. Các vị học trưởng, mọi người học tập, hoằng dương văn hóa, cả đời này có thay đổi hay không, có thể kiên trì hay không? Mọi người đều gật đầu. Cái gật đầu này là cảm giác của hiện tại, về sau gặp phải việc bảy ngày không được ăn cơm, lúc đó có còn giữ được ý chí hay không thì rất là khó nói. Làm những việc này là bổn phận của người làm con cháu như chúng ta, nó không phải là có điều kiện gì cả. “Nếu như có thể khiến tôi có cơm để ăn thì tôi làm”, đây là có điều kiện. Giả như điều kiện này không có thì không làm nữa. “Giả sử thầy Thái Lễ Húc làm thì tôi làm, thầy không làm thì tính sau”, vậy thì việc này là có điều kiện. Không có điều kiện thì mới là đạo nghĩa.

Tôi còn nhớ vào cuối tháng mười năm 2005, lần đầu tiên bồi dưỡng cho các đồng nghiệp ở Lô Giang, tôi nói: “Nếu sư trưởng không làm nữa, các vị có làm nữa hay không?. Họ có người thì có phản ứng, có người thì không phản ứng gì. Vấn đề này rất là quan trọng. Có thể sẽ có người nghĩ Sư trưởng không có chuyện sẽ không làm, như vậy là mọi người không có phối hợp với vấn đề tôi nêu ra rồi. Trọng điểm đó không phải là ở việc sư trưởng làm hay không, mà là nó phát sinh trong bất kỳ tình huống nào thì chúng ta có thay đổi so với phát tâm ban đầu không. Sẽ có sự khảo nghiệm đấy! Ví dụ như bạn học được ba năm rồi, con cái vẫn không nghe lời, vợ hoặc chồng vẫn chưa chịu tiếp nhận thì lòng tin có bị ảnh hưởng hay không? Không có phản ứng gì à? Bắt đầu suy nghĩ miên man rồi! Con đường hoằng dương văn hóa trong thời đại này của chúng ta thật không dễ dàng!

Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”. Phải có vô số người chúng ta kiên trì đi làm, gọi là “cho dù thân này bao khổ sở, tâm nguyện vẫn chẳng hề lui”. Vào lúc đó, đại nạn ở nước Trần và Thái của Khổng Lão Phu Tử trong quyển luận ngữ có nói Trần - Thái bị tuyệt lương.“Tùng giả bệnh, mạc năng hưng”, rất nhiều vị học trò đói đến mức không bò dậy được. “Tử Lộ uất kiến viết”, Tử Lộ tâm tình có chút dao động đến hỏi Khổng Lão Phu Tử. “Quân tử diệc hữu cùng hồ”, nghĩa là người quân tử cũng có lúc gặp phải cảnh khốn cùng hay sao? Đương nhiên Tử Lộ có tâm tư, không phải bởi vì ông đói bụng đến mất vui. Tử Lộ là người rất dũng mãnh, không phải vì đói bụng mà nổi giận. Tôi thì có thể vì đói bụng mà nổi cáu, còn những vị Thánh Nhân này thì công phu đều rất hiếm có, họ đều không phải vì cái đói mà làm cho mất vui, họ là cảm thấy cái đại đạo này của Khổng Lão Phu Tử làm sao lại không thể hành được. Ông cảm thấy không biết làm sao. Khổng Lão Phu Tử liền nói: “Quân tử cố cùng”, nghĩa là người quân tử đích thực có thể gặp phải sự khốn cùng. “Tiểu nhân cùng tư lạm”, người tiểu nhân lúc gặp khốn cùng thì sẽ chùn bước, sẽ thay đổi lập trường, nhưng người quân tử thì không. Tử Lộ còn nhấn mạnh, chính là Phu Tử có dạy: “Người hành thiện thì ông trời báo bằng phước, người hành bất thiện thì ông trời báo bằng tai ương”. Họ làm đều là những việc tốt mà sao suốt bảy ngày không có cơm ăn, vậy nếu như chúng ta làm được mấy năm, sau cùng suốt bảy ngày không có cơm ăn thì có làm nữa hay không? Phu Tử có một đoạn nói rất quan trọng: Làm thiện không gần danh, làm ác không gần hình phạt. Người làm thiện không nhất định sẽ lập tức liền có được danh tiếng và quả báo tốt đẹp, bởi vì việc thiện mà chúng ta làm thì chúng ta phải nghĩ rằng đó là việc nên làm, chứ không phải vì muốn có được một quả báo tốt. Mang sự mong cầu này đi hành thiện mà không được thì sẽ thất vọng, thậm chí là không muốn làm việc tốt nữa. Kỳ thực, việc thiện thì tương ưng với lương tâm của chúng ta, không làm thực ra lương tâm của chúng ta bất an. Khi một con người làm ác, họ cũng không phải sẽ lập tức nhận lấy hình phạt của ông trời hay của pháp luật. Có thể phước báo của họ tương đối lớn, họ còn được nương nhờ vào thế lực, nhưng mà ác hạnh của họ cuối cùng “không phải không báo mà thời giờ chưa đến, đến lúc thì họ vẫn sẽ chịu quả báo. Cho nên việc cày cấy của chúng ta hiện nay rất có thể hai - ba thế hệ sau mới báo.

Thời đại hiện nay mọi người cứ bình tĩnh mà nhìn kỹ, quan sát xem, con người hiện tại có thể làm việc xấu trong một tháng bằng với người thời trước làm cả đời phải không? Thời đại hiện nay biến thành ra như thế nào vậy? Đó là làm việc xấu mà còn gọi là có bản lĩnh, đã sai lệch đến mức như vậy rồi. Các vị xem, quan hệ nam nữ cũng hỗn loạn như vậy, người làm ra hỗn loạn đó lại cảm thấy họ có bản lĩnh. Chúng tôi đã từng nghe một cô gái nói cô ấy đã phá thai hết mười mấy lần, ngữ khí của cô nói ra giống như là cô đang khoe khoang thành tích việc này vậy, thật đáng sợ! Mười mấy lần đã sát hại cốt nhục của chính mình. Thậm chí có người lấy việc chơi đùa với tình cảm làm bản lĩnh, sai lệch quá lớn rồi! Việc xấu làm trong một tháng không chừng còn hơn cả người hồi xưa làm trong một đời, vì vậy mọi người cứ suy nghĩ: “Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát”. Con người hiện tại giác ngộ quá muộn. Hiện tại các vị xem, thiên tai nhân họa tốc độ càng ngày càng nhanh, cho nên người xưa vì sao rất coi trọng sự ngăn chặn ngay từ đầu.

“Thần giết vua, con giết cha”, cận thần sát hại lãnh đạo, con cái sát hại cha mẹ. Câu chuyện này không phải xảy ra một sớm một chiều, không phải hình thành trong một vài ngày. “Kỷ sở do lai giả tiệm hỷ”, nghĩa là từ từ hình thành. “Do biện chi bất tảo biện”, việc nên nhanh chóng phán đoán thì lại không phán đoán được. Kỳ thực, có câu “quân tử hiểu rõ về nghĩa, tiểu nhân hiểu rõ về lợi. Chúng ta hiện tại đều dạy cho con cái phải tự tư, phải mưu lợi, vậy đương nhiên nuôi dạy ra gia đình cũng là tiểu nhân, xã hội cũng là tiểu nhân, không thể trách họ được. Chúng ta làm thầy cô, làm cha mẹ có những nhận thức bị sai lệch rồi, cho nên rất nhiều thiên tai cứ không ngừng xảy ra ngay trước mắt. Các vị học trưởng, xin hỏi là sắp kết thúc rồi hay chỉ mới bắt đầu? Là chỉ mới bắt đầu. Đúng vậy! Vậy chúng ta hiện tại đang làm về văn hóa truyền thống, những thiên tai này chúng ta có gặp phải hay không? Gặp thì phải làm thế nào, chúng ta có chết hay không? Sao không có ai nói gì hết vậy? Mọi người đều cảm thấy chữ “chết” này thật là nhạy cảm.

Các vị xem, thế gian này mỗi ngày có bao nhiêu người chết? Có ai dám nói là tôi sẽ không bao giờ chết hay không? Không thể nào. Mỗi người đều sẽ chết nhưng mọi người đã chuẩn bị tốt hay chưa? Đều không có chuẩn bị gì, mỗi người đều sẽ chết mà không ai chuẩn bị, đều đã bị cái chết làm cho hoảng sợ. Con người thật là lạ! Rõ ràng biết mỗi người đều sẽ chết, vậy vì sao không dạy người ta làm sao để đối diện cái chết.

Khổng Lão Phu Tử nói: “Tinh khí vi vật, du hồn vi biến”. “Du hồn vi biến”, biến thành cái gì vậy? Có biến thành cái tốt đẹp hơn hay không còn phải xem linh hồn của mình quyết định. Khổng Lão Phu Tử ở trong “Dịch Kinh” có dạy chúng ta sự nhận biết chính xác về thân thể này, nhận biết chính xác về việc sinh tử. Nhà Nho có dạy, nhà Đạo có dạy, nhà Phật còn dạy triệt để hơn nữa. Vậy khi có đại tai nạn xuất hiện, không có sự bảo đảm nào nói là văn hóa truyền thống sẽ không chết. Có lẽ có một điều có thể bảo đảm cho bạn, đó là bạn ngước mặt nói với ông trời rằng: “Văn hóa Trung Hoa chính thống nhất định sẽ từ bản thân tôi mà phát dương quang đại, vậy thì bạn sẽ không chết. Cái nguyện này của bạn quá lớn rồi! Do sức mạnh thiện lương của bạn quá lớn, không chỉ bạn sẽ không chết mà các vị thần linh trong trời đất, tổ tiên đều đến để phù hộ cho bạn, bạn sẽ không thể chết. Trong rừng bom mưa bão đạn bạn cũng không chết. Đây không phải là tôi nói, mà Khổng Lão Phu Tử đã chứng minh cho chúng ta thấy.

Khổng Lão Phu Tử đã nhiều lần gặp tai nạn rất lớn, mắt thấy đại nạn ở ngay trước mắt. Khổng Lão Phu Tử nói với các học trò: “Thiên chi vị táng tư văn dã”, nghĩa là ông trời một khi không muốn văn hóa truyền thống bị đoạn diệt thì ai cũng không thể tổn hại được ta. Đây là biết thiên mệnh. Vậy hôm nay mọi người sau khi trở về hãy đốt một nén nhang nói rõ với trời đất, vỗ ngực một cái phát thệ nguyện như vầy: “Trong thời khắc nguy cơ tồn vong của nền văn hóa truyền thống hiện tại, tôi sẽ dùng thân này để kế thừa phát dương”. Bạn đã có tinh thần bất khuất rồi, gặp phải tai họa bạn cũng không hoảng sợ. Giả như buổi tối hôm nay có được 200 vị đồng học phát cái nguyện như vậy, tôi thấy tai nạn sẽ xoay chuyển không ít, lớn sẽ hóa thành nhỏ. Thật sự phát tâm mới được như vậy, không thể gạt ông trời được đâu. Bàn với mọi người đến đoạn này chính là tất cả sự hành thiện quyết định sẽ có thiện báo, nhưng mà không nhất định bảo đảm nó sẽ lập tức có báo ứng hoặc là sẽ báo ngay trong đời này của chúng ta.

Tôi nghe một câu chuyện mà thấy khâm phục. Huyền Trang Đại sư cả đời đã cống hiến vô số tâm sức cho văn hóa Trung Hoa. Trong lịch sử lâu dài đã qua, không có nhiều người có thể vượt qua được Huyền Trang Đại sư. Tôi có đến Chùa Pháp Môn ở Tây An, thánh tượng của Huyền Trang Đại sư được điêu khắc đặt ở ngay trước mặt tự viện, và còn bày tỏ sự đóng góp to lớn của Huyền Trang Đại sư đối với dân tộc. Ngài là trụ cột quan trọng nhất của dân tộc, vậy mà Đại sư trong những năm về già đã bị một trận bệnh có thể nguy hiểm đến tính mạng. Phụng hiến cả cuộc đời vậy mà về già lại bị bệnh. Ý niệm của Đại sư lập tức suy nghĩ: “Có phải là ta đã dịch sai Kinh rồi không?. Lúc nào cũng cảm thấy sự phụng hiến là bổn phận của mình, không hề mong cầu được quả báo tốt, ngược lại là nhắc nhở chính mình có gây ra sự ảnh hưởng không tốt nào đối với người đời sau hay không. Lập tức lại nghĩ: Có phải mình dịch sai hay không? Có phải ông trời nhắc nhở mình hay không?”. Về sau đã chứng thực là không dịch sai, đó chỉ là quả báo nhẹ của trọng tội. Tâm cảnh này của Đại sư khiến cho chúng ta vô cùng khâm phục. Bởi vì có lúc chúng ta làm việc tốt, sau cùng lại mắc bệnh, gặp phải chuyện gì đó không như ý sẽ rất dễ dàng phủ định “ác có ác báo, thiện có thiện báo”, như vậy thì đối với cuộc đời sẽ có sự chướng ngại rất lớn. Cho nên, chúng ta “chỉ lo làm việc tốt, đừng hỏi chuyện tương lai”. Chỉ cần là việc tốt, đã làm rồi tất sẽ có quả báo tốt. Cuộc đời này đối diện với thời đại lớn đích thực là tốc độ tạo ác quá nhanh, cho nên hiện tại tốc độ thiên tai cũng rất nhanh. Vậy khi chúng ta đối mặt với tai hại trọng đại thì một điểm quan trọng là tâm không thể loạn, tâm phải định.

Đây là hôm nay có cảm ứng mà phát ra. Xin được nêu ra để cùng với mọi người cố gắng, hiểu được cái chết không đáng sợ, chết thì cũng giống như việc thay áo vậy. Vì sao cái chết đáng sợ? Bởi vì con người không nhận thức được chân tướng của cái chết, sau đó lại còn xem nó là một điều rất đáng sợ, cuối cùng thì bị nó làm cho sợ thất kinh hồn vía.

Vừa rồi khi mới bắt đầu giảng, đã nói với mọi người việc chia sẻ của những sinh viên đại học đã khiến cho tôi suy nghĩ, đó cũng là nhắc nhở chúng ta. Chúng ta học tập đều là dùng một tấm lòng chân thành cung kính để mà thể hội, không phải là việc nhồi nhét thêm tri thức nữa. Hiện tại, những bài mục này của chúng ta đối với cuộc đời vô cùng quan trọng là “phản thân”, phản cầu chư kỷ ở trong “quân đạo”. Trong “Luận Ngữ” đã nói: “Người quân tử thì cầu ở mình, kẻ tiểu nhân thì cầu ở người”. Những giáo huấn này của Phu Tử rất quan trọng, bởi vì chúng ta không hiểu đạo lý bên trong có thể lại tự mình oan uổng làm tiểu nhân. Cũng vì không rõ ràng nên đức hạnh mỗi ngày đều đang thụt lùi. Cũng vì không biết rõ cuộc đời phải có ý nghĩa, phải “đức tiến dần, lỗi ngày giảm” thì mới có ý nghĩa. Tập khí không thể giảm, sau cùng còn bị tập khí khống chế, thì cuộc đời thật sự là rất đau khổ, vô cùng mất giá trị. Cho nên, “người quân tử cầu ở chính mình”, là cầu ở bản thân mình, phản tỉnh chính mình; “Tiểu nhân thì cầu ở người”, cầu ở tại người khác. “Ở tại” này là dịch ra từ chữ “chư”. Cho nên chúng ta vừa gặp phải việc gì không như ý thì ý niệm đầu tiên là “tôi đã sai ở chỗ nào” hay ý niệm đầu tiên là “ai đã hại tôi vậy”, “là ai đã không nói với tôi vậy”?

Ví dụ như chúng ta ở trong công ty của mình, đồng nghiệp đến mượn đồ của bạn nhưng không kịp thời trả lại, kết quả là bạn đi tìm nhưng không thấy, khi đó ý niệm đầu tiên là gì? “Này! Tôi cho anh mượn, giúp anh rồi sao anh không trả lại cho tôi vậy, tức chết đi được!” phải không? Đây là vẫn còn trách người khác. “Người quân tử thì cầu ở mình”, sự việc gì phát sinh thì đầu tiên là “ta có chỗ nào đó chưa được?” mới tạo thành sự việc như vậy. Khi họ mượn thì mình có ghi chép lại hay không? Có ghi chép không phải là đã hết việc rồi hay sao? Vả lại, sau khi ghi chép lại thì ta thuận tiện cũng nói với người ta một phương pháp làm việc chính xác. Cho nên, một sự việc gì đó phát sinh thì luôn luôn là những người liên quan đã qua loa cẩu thả nên mới tạo thành sự việc không tốt như vậy, chỉ cần có một người sáng suốt thì sự việc này đã không phát sinh rồi. Xin hỏi ai sáng suốt thì sự việc sẽ không phát sinh? Là “ta”, chính “ta” cần phải sáng suốt. Cho nên, thái độ làm việc quan trọng.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 34

Các vị xem, ngày trước người làm ăn buôn bán dù bận rộn vẫn phải ghi sổ, hàng hóa để theo vị trí. Bất kỳ một tình huống nào xảy ra đều là nhắc nhở chúng ta làm người, làm việc vẫn chưa đạt, không phải là việc xấu. Nhưng nếu như gặp rồi mà chúng ta lại chỉ trích, trách móc, thậm chí là đối lập thì cái sai đó càng ngày sẽ càng quá đáng. Cho nên cái “phản thân”, phản cầu chư kỷ này quan trọng. Thói quen này không nuôi dưỡng, đến lúc nào đó không biết phải tốn bao nhiêu công sức và thời gian mới bù đắp lại được, cho nên việc tập thành thói quen làm người xử sự tốt rất là then chốt.

Ví dụ như xử sự thì phải “trừng phẫn”, phải nhẫn cho được tính khí. “Nhẫn được tức giận một lúc, tránh được nỗi lo trăm ngày”. Giả như sự tức giận không nhẫn được, gây ra xung đột gia đình, xung đột đoàn thể mà muốn hàn gắn lại thì cũng không biết phải tốn bao nhiêu thời gian. Khi gặp phải sự việc gì mà có thể “phản thân”, phản cầu chư kỷ thì sự việc này sẽ không bị trầm trọng đi, sự việc này sẽ chuyển thành sự lắng lòng cho mỗi người, thậm chí là mỗi người sẽ phản tỉnh điều chưa được của chính mình. Cho nên người xưa đã nói: “Người người tự trách thì trời yên gió lặng, người người trách nhau thì trời long đất lở”.

Lúc trước, chúng tôi có kể qua hai cặp vợ chồng sống đối diện nhau. Cặp vợ chồng hòa hợp thì mỗi khi gặp phải việc gì vợ chồng cũng là tự phản tỉnh bản thân trước, cặp còn lại thì “cãi vã hai ngày một trận nhỏ, ba ngày một trận lớn”, bất kể một sự việc nhỏ nhặt nào phát sinh thì nhất định là trách người kia trước. Cho nên, hạnh phúc hay không có mối liên quan đối với thái độ xử sự của chúng ta.

“Phản thân” ở trong “quân đạo”, người làm vua là người đứng đầu một nước, tâm thái của họ có thể ảnh hưởng đến các thần dân, gọi là “trên làm dưới theo”. Tâm cảnh của họ còn ảnh hưởng đến quảng đại nhân dân, tâm cảnh của họ tốt thì tâm của lão bá tánh đều thiện, gây tạo phước lớn; người lãnh đạo có tâm ác, lão bá tánh cũng học theo họ, thì cái đoàn thể này, quốc gia này liền sẽ có đại họa. Cho nên trong “Đại Học” có nói: “Một nhà nhân, một nước hưng nhân. Một nhà nhượng, một nước hưng nhượng. Một người tham lam, một nước làm loạn”. Nghiêu Thuấn dùng nhân từ để dẫn dắt thiên hạ mà thiên hạ làm theo, Kiệt Trụ dùng bạo ngược trị thiên hạ thì thiên hạ cũng học theo”, cho nên cấp trên có sức ảnh hưởng đến cả đoàn thể, đến vận mạng của đất nước.

Các vị quân vương trong các triều đại của chúng ta noi gương theo ai vậy? Gần thì noi theo vị tổ khai quốc lập triều của họ. Bởi vì sự gian nan khi lập nghiệp thật sự là không dễ dàng. Xa thì noi theo cổ Thánh tiên Vương của dân tộc. Cho nên những tấm gương như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thương, Văn, Vũ, Chu Công thật sự là rất đáng quý, những vị vua hai - ba nghìn năm sau còn noi gương học theo những quân vương này. Noi theo nhưng kỳ thực cũng là hy vọng tự mình thành Thánh vương.

Chúng ta xem câu tiếp theo: Tích Thành Thang tao hạn”. Trong quá khứ, khi vua Thành Thang còn tại vị gặp phải hạn hán. “Dĩ lục sự tự trách viết”, từ trên sáu sự việc mà phản tỉnh, kiểm điểm chính mình. Người xưa họ rất rõ lý, họ biết được chân tướng vũ trụ nhân sanh là trời người hợp nhất, toàn bộ tình trạng của đại tự nhiên và nhân tâm phối hợp chặt chẽ. Làm thiện thì giáng trăm điều may, bất thiện mới giáng trăm điều tai ương. Thang vương đã phản tỉnh: “Chính bất tiết da?”, nghĩa là phương pháp, thái độ của việc trị lý chính sự có phù hợp với pháp độ chính xác hay không, chính là có phù hợp với những Kinh điển này, những tấm gương Thánh vương này hay không? Cho nên trong “Hiếu Kinh” đều có nhắc đến: “Không phải đức hạnh của Tiên vương thì không dám hành, không phải pháp ngôn của Tiên vương thì không dám nói. Lời nói việc làm phải phù hợp Kinh điển, nói cụ thể là phù hợp chân lý, không thể cứ đi theo những quan niệm tư tưởng sai lầm.

“Sử dân tật da”, nghĩa là những việc đã làm có khiến cho lão bá tánh sinh ra oán hận hay không, có quan tâm đến tiếng lòng của nhân dân hay không.

“Cung thất vinh da”. “Cung thất” chính là nơi ở, nơi làm việc của hoàng thượng. “Vinh da” chính là có xây dựng xa xỉ quá hay không. Những cung thất này xây dựng quá xa hoa, đều là dùng tiền mô hôi nước mắt của lão bá tánh thì đã không phù hợp với nhân đạo của người làm vua. Đem tiền mồ hôi nước mắt của lão bá tánh để hoang phí vậy thì nhân từ ở đâu?

Lúc trước chúng ta đã bàn đến Yến Tử và Tề Cảnh Công nói chuyện. Cảnh Công nhấn mạnh làm sao để dân giàu, dân an? Yến Tử trả lời: “Người tự mình phải khắc chế dục vọng của mình, phải tiết dục thì dân mới giàu được. Người vơ vét tiền của thì đời sống của lão bá tánh liền có vấn đề. Cho nên “cung thất vinh da” ở đây là có phải đã tiêu tốn quá nhiều tiền không cần thiết vào những công trình kiến trúc, rường cột chạm trổ.

Trong “Luận Ngữ”, Khổng Lão Phu Tử đã khen ngợi Đại Vũ (Vũ vương cũng là Thánh nhân). Phu Tử đã cảm thán rằng: “Vũ, ngô vô gián nhiên hỷ”, nghĩa là ta không thể tìm ra được việc gì của Đại Vũ mà có thể chê trách được, chính là nhân cách của Đại Vũ quá cao thượng. Đại Vũ ăn uống cũng rất đơn giản, rất tiết kiệm, nhưng khi tế bái tổ tiên thì lại vô cùng phong phú, cho nên ông là người rất có tâm hiếu đối với tổ tiên. Ông ăn mặc cũng rất giản dị, nhưng khi lên thượng triều, hoặc là khi đi tế bái thì ăn mặc rất long trọng. Tự mình khi ở nhà không có ai nhìn thấy thì ăn mặc miếng vá này chồng lên miếng vá kia, lúc ở trên triều thì vô cùng tôn trọng quần thần, cho nên ăn mặc rất chuẩn mực. Khi cúng tế tổ tiên thì cũng ăn mặc nghiêm chỉnh, nhưng nhất định không chịu tốn tiền để mua những loại quần áo thường ngày cho chính mình. Việc này ngoài tiết kiệm ra, đối với quần thần đều có tâm cung kính, có hiếu, có kính.

Tiếp đến, Khổng Lão Phu Tử lại nói đến Đại Vũ là bi cung thất”, chính là nơi ở của ông rất tiết kiệm, rất sơ sài, đem tiền tài của quốc gia dùng vào việc cải thiện xây dựng thủy lợi cho lão bá tánh. Việc thủy lợi xây dựng càng tốt thì công việc cày cấy càng thuận lợi, từ đó thu nhập của lão bá tánh cũng không có vấn đề. Có hiếu, có kính, còn luôn luôn đồng cảm với cuộc sống của lão bá tánh, đây là tâm nhân ái. Cổ Thánh tiên Vương đích thực từ những chỗ này mà kiểm điểm chính mình.

Chúng ta nói đến chỗ này cũng nhớ lại, bà Hứa Triết năm nay đã 114 tuổi, những thứ chính bà ăn, mặc, ở, sử dụng đều vô cùng đơn giản. Bà không bao giờ ăn uống đồ bổ dưỡng mà bà sống trường thọ. Mọi người có ai nghe đến việc ngày ngày uống thuốc bổ thì sống rất thọ hay không? Tôi thấy rằng, nếu nói là sống lâu thì đều không phải là nhờ uống thuốc bổ, mà đều là những con người rất nhân từ, gọi là “người nhân sống thọ”. Mấu chốt của việc sống lâu là “từ, kiệm, hòa, tịnh”, gọi là “nhân giả thọ”. Người nhân từ ý niệm vừa khởi, người khác vẫn chưa nhận được lợi ích nhưng thân tâm của chính mình đã được thái hòa. Cho nên trong “Luận Ngữ” nói: “Nhân giả thọ” là có đạo lý. Lợi người nhất định là sẽ lợi mình.

Còn tiết kiệm thì rất quan trọng. Bà Hứa Triết rất tiết kiệm. Trong quyển tự truyện bà nói, bà cảm thấy chính mình dùng nhiều thêm một đồng tiền thì giống như đang dùng tiền của anh chị em mình vậy, có thể khiến họ không có gì để ăn, cho nên bà nhất định không dùng tiền bừa bãi. Có một lần bà để tiền người ta quyên ở trong ngăn bàn, kết quả bị ăn trộm lấy mất. Bà Hứa Triết suy nghĩ là do bà không cất tiền kỹ cho nên mới xảy ra việc này, bà cũng không trách đối phương. Những người có đức hạnh như vậy thì tâm cảnh “phản thân” của họ vô cùng thích đáng. Vả lại, bà nói sự việc này là do bà làm, cho nên từ hôm nay bà bắt đầu mỗi ngày sẽ ít ăn, ít dùng tiền, bà phải đem số tiền này bù trả lại. Đây là nghiêm khắc với chính mình. Vì vậy, nhất định là luôn luôn vì anh chị em trong thiên hạ mà suy nghĩ cho nên không dám dùng tiền bừa bãi. Tâm nhân từ này của bà cùng với nhân từ của cổ Thánh tiên Vương là tương ưng, vì thế đã có được sự tín nhiệm và quan tâm chăm sóc của tất cả mọi người đối với bà.

Tiếp theo, chúng ta xem “Nữ yết thịnh da”. Chữ “nữ yết” này ý nghĩa chính là chỉ những Phi tử được hoàng cung sủng ái. Những người phụ nữ này có lộng quyền làm mưa làm gió chính sự không? Mọi người xem, có một số triều đại, sau khi phụ nữ can thiệp triều chính thì cả đất nước liền bại đi rất nhanh. Chúng ta xem, gần đây nhất là triều nhà Thanh, Từ Hy Thái hậu đương chính. Hoàng đế triều Thanh đều đọc đủ thứ Kinh sách, đều rất dụng tâm, ba giờ sáng đã thức dậy, cho nên triều Thanh từ đầu đến cuối không có xuất hiện hôn quân. Nhưng sau năm Hàm Phong, Từ Hy Thái hậu nắm chính quyền, vốn dĩ thói quen giảng Kinh điển của ba nhà Nho - Thích - Đạo ở trong triều đình đã giữ được cả trăm năm (hơn một trăm năm không thay đổi), nhưng sau khi Từ Hy thái hậu chấp chính thì thay đổi, không cho giảng nữa. Không giảng Kinh, tư tưởng quan niệm của con người liền có sai lệch. Phải luôn có người nhắc nhở mới được, cho nên người xưa nói “ba ngày không đọc sách, mặt mũi liền khó coi. Chúng ta hiện nay nếu một ngày không đọc sách thì đã khó coi rồi. Cần phải không ngừng huân tập thì mới có thể giữ gìn chánh niệm. Nếu không chịu nghe nữa thì tư tưởng quan niệm mỗi người liền bắt đầu trượt đi xuống, đọa lạc. Cuối cùng triều Thanh bị diệt vong. Hơn nữa, không phải là triều Thanh bị diệt vong thôi mà cả nền văn hóa truyền thống cũng không được hoằng dương. Bại một lần kéo dài cả một - hai trăm năm, rất đáng sợ! Từ Hy Thái hậu không nghe lời Kinh điển mà nghe thuật lên đồng, nghe lời quỷ thần, vậy thì càng quá đáng! Vào lúc đó không phải là đao thương bất nhập hay sao? Việc luyện đao thương bất nhập của Nghĩa Hòa Đoàn đều đã bị sai lệch rồi. Cho nên, trong “Tả Truyện” có nói: “Quốc tương hưng, thính ư dân”, có thể hiểu được tiếng lòng của muôn dân, dùng tâm để yêu thương để chăm sóc thì quốc gia này sắp hưng thịnh rồi. Đất nước sẽ diệt vong vì nghe vào quỷ thần. Nghe nhân dân, kỳ thực chính là nghe “quân đạo”, nghe tinh thần nhân ái. Còn việc nghe quỷ thần, quỷ thần không phải là người khai ngộ, lại không phải là người hiểu được chân lý, cho nên càng nghe càng sai. Cho nên, sự phản tỉnh thứ tư của Thương Thang là những người phụ nữ được sủng ái thì có lộng quyền hay không?

Kỳ thực, nam nữ hữu biệt. Nam chủ ngoại, nữ chủ nội. Thê tử của quân vương chủ yếu phải trị lý tốt việc nội chính, nuôi dạy tốt thế hệ sau, họ tham gia chính sự thì sẽ không thể ở nhà giúp chồng dạy con tốt được. Thời đại ngày nay, phụ nữ đều ra xã hội kiếm tiền, vậy thì việc trong nhà ai sẽ chăm lo? Ông chủ gia đình sẽ phải lo, người nam phải chăm lo. Nam nữ vẫn là phải có sự khác biệt. Có thể sẽ có người nói: “Nhưng trong nhà tôi vẫn lo tốt, con cái của tôi tốt nghiệp tiến sĩ. Tôi cũng lo việc chính trị rất nghiêm túc”. Có người như vậy hay không? Có, nhất định là có, đích thực là làm cũng rất tốt. Họ có năng lực như vậy, nhưng vấn đề kế tiếp đã xuất hiện. Họ có năng lực này nhưng những người phụ nữ khác thì có năng lực này hay không? Người xưa nhìn xem sự việc không như nhau, họ không phải chỉ nhìn những vấn đề ở trước mắt. Không luận hiện hành, chỉ luận thói xấu; không luận nhất thời mà luận lâu dài; không luận bản thân mà luận thiên hạ. Trưởng tôn hoàng hậu có trí huệ hay không? Có. Bà có thể quản việc chính trị nhiều một chút được không? Bà có trí huệ đó, có thể làm được, nhưng bà có quản hay không? Bà không có quản, vì sao vậy? Bà có trí huệ, bà có năng lực, nhưng bà không làm, bởi vì nếu tạo ra cái tiền lệ này rồi về sau sẽ có thể xảy ra vấn đề xấu.

Mọi người xem, học trò tốt của Khổng Lão Phu Tử đến bảy mươi hai vị. Bảy mươi hai vị này rất lợi hại. So về võ công thì không ai hơn Tử Lộ, so về năng lực ngoại giao thì không ai vượt qua được Tử Cống, so về đức hạnh thì không ai vượt qua được Nhan Tử, so về quản lý tiền bạc không có ai qua Nhiễm Cầu. Bảy mươi hai vị hiền nhân, 3.000 đệ tử. Vào lúc đó, nhân khẩu chỉ vài triệu người mà học trò của Ngài đã có đến 3.000 người tinh anh, xin hỏi vào lúc đó Khổng Lão Phu Tử làm chính biến thì có được hay không? Khổng Lão Phu Tử chỉ cần giương cờ khởi nghĩa thì thiên hạ không biết có bao nhiêu người đi theo Ngài. Khổng Lão Phu Tử vì sao không làm? Vì sẽ tạo tiền lệ xấu. Sau khi làm như vậy xong, về sau rất nhiều người có lòng tham sẽ nói Khổng Lão Phu Tử còn làm như vậy, thế là họ làm theo. Nếu như vì một quyền lực nào đó của chính mình mà đi làm những sự tình này thì vấn đề sẽ xảy ra.

Có rất nhiều sự việc mà con người thời đại này kỳ thực chưa chắc có thể nghĩ đến được tương lai của nó sau này. Chúng ta lại suy nghĩ xem, người phụ nữ mạnh mẽ, mọi người đã gặp qua người phụ nữ mạnh mẽ hay chưa? Rồi. Xin hỏi mọi người, trong mười người phụ nữ mạnh mẽ thì có mấy người được vui sướng? Hiện tại có rất nhiều người muốn làm người phụ nữ mạnh mẽ, nhưng sau khi làm rồi rốt cuộc có vui hay không thì dường như không có ai quan tâm. Rất nhiều người muốn mở công ty làm ăn, rốt cuộc mở công ty thì có hạnh phúc hay không cũng không biết, chỉ biết liều mình ra sức một mực đi về hướng đó. Tôi cũng chưa có đi điều tra qua những vấn đề này, có lẽ mọi người nên tự mình lắng lòng mà suy nghĩ lại xem. Dựa vào sự hiểu biết của tôi đối với các cô, nếu như người chồng mà không đồng tâm, cho dù các cô có nhiều tiền hơn thì các cô cũng không cảm thấy vui vẻ. Nếu như con cái của các cô không được dạy dỗ tốt, các cô là người giàu nhất thế giới thì tôi cảm thấy các cô cũng sẽ không lấy làm vui, bởi vì người phụ nữ đặc biệt coi trọng tình cảm, con cái là người thân cận nhất với họ lại không thể sống hòa hợp thuận hòa với họ. Bên ngoài bảo cho các cô những thứ khác để làm các cô hạnh phúc thì tôi không tin, thật sự là có cười được thì cũng chỉ là giả bộ thôi chứ không phải thật. Cho nên người xưa mấy nghìn năm nay nam chủ ngoại, nữ chủ nội là có đạo lý của nó. Đương nhiên, tôi nói những việc này nhưng các cô cũng đừng có về nhà rồi nói với chồng của mình: “Em muốn nghỉ việc”, lại còn nói thêm một câu là việc này do thầy Thái nói, vậy thì tôi xong rồi. Tôi chỉ là phân tích cho mọi người nghe thử, sau đó vấn đề lựa chọn như thế nào là do mỗi người. Việc lựa chọn đó cũng phải tuân theo sự tuần tự tiến dần, không nên quá nóng vội. Kỳ thực tôi cũng đã nghe qua rất nhiều, vốn dĩ ở cương vị công việc cũng là người hô mưa gọi gió, sau khi bỏ hết trở về với gia đình, trong nội tâm của các cô càng lúc càng an vui, gia đình càng ngày càng hạnh phúc.

Tôi có một lần gặp được một cô gái ở Chiết Giang. Phụ nữ ở Chiết Giang rất là giỏi, năng lực làm việc rất tốt. Sau đó cô ấy nói, nghe được đạo lý ngũ luân này rồi cô ấy đã buông bỏ bớt công việc trở về giúp chồng dạy con, về sau cảm thấy tâm hồn được thoải mái hơn, thấy an ổn hơn. Đương nhiên việc ở nhà thì lại không đảm bảo về vấn đề kinh tế, cho nên việc này không thể nóng vội. Nhưng một điểm hết sức quan trọng đó là tâm của bạn nhất định phải đặt ở gia đình, đặt ở con cái. Bây giờ không đặt vào gia đình và con cái, về sau có muốn đặt nữa thì cũng không còn cơ hội, cuộc đời gọi là hối hận quá, hối đến sau cùng rồi mới hận, vậy thì không tốt.

Tiếp đến là “bao tư hành da”. Chữ “bao tư” này là chỉ việc biếu tặng quà, nghĩa là tệ nạn hối lộ có phải là đang rất phổ biến hay không? Hễ có sự hối lộ thì nếp sống chính trị của cả quốc gia sẽ bại hoại, cho nên phải suy nghĩ lại có tệ nạn hối lộ này hay không? “Sàm phu xương da”, những người nói lời gièm pha có phải là càng ngày càng ngông cuồng hay không? Từ trên sáu điều này mà phản tỉnh chính mình. Đương nhiên vừa phản tỉnh như vậy, vừa điều chỉnh thì tai họa này liền có thể hóa giải được hết.

Năm Trinh Quán thứ hai, ở khu vực Quang Trung bị đại hạn hán. Quang Trung là một khu vực ở Thiểm Tây, Đường Thái Tông chính là người của vùng đất Thiểm Tây này. Bởi vì hạn hán nặng, Thái Tông liền nói với những thần tử ở bên cạnh mình: Việc hạn hán không được điều hòa chính bởi vì người làm vua thất đức, người đó không có tu đức cho nên ông trời mới trách phạt. Ông nói: “Ông trời hãy trách trẫm, bá tánh nào có tội gì!. Việc này không nên trách bá tánh, sao lại để cho bá tánh phải gặp phải sự khốn cùng này chứ, cho nên bản thân họ cũng tự trách. Ông nghe tình trạng có người nào đó bởi vì quá nghèo mà đem con cái của mình đi bán thì ông vô cùng đau xót. Cho nên ông đã phái Ngự sử đại phu Đỗ Yêm tìm hiểu tình hình, đem số tiền mà mình tiết kiệm được ở trong cung chuộc lại, sau đó đem trả lại cho cha mẹ của chúng. Thái Tông thật là hiếm có, không biết mọi người có còn nhớ hay không?

Một lần kinh thành bị nạn châu chấu hoành hành, Thái Tông đích thân đi thị sát các đồng lúa. Lúc đó có rất nhiều châu chấu bay đến. Khi Thái Tông nhìn thấy những con châu chấu này, thì nói với chúng rằng: “Con người xem cốc loại là mạng sống, họ không có những thứ này để ăn thì rất khó để duy trì cuộc sống. Nếu như các ngươi ăn hết những loại hạt cốc này thì đã hại đến tất cả bá tánh. Nếu bá tánh có lỗi thì lỗi là ở chính một mình ta, các người không nên giáng họa vào bá tánh. Các ngươi nếu như có linh tri thì hãy đến mà ăn tim của ta, không nên ăn lúa gạo, không nên hại bá tánh”. Sau khi nói xong liền bỏ con châu chấu vào miệng mà nuốt. Vị quan ở bên cạnh liền nói: “Bẩm hoàng thượng, người ăn vào e rằng sẽ bị bệnh”. Thái Tông nói: “Ta chính là muốn đem cái tai ương này mang vào người của ta, vậy thì còn sợ bệnh gì nữa chứ. Kết quả sau đó nạn châu chấu hết đi rất nhanh chóng. Cho nên năng cảm là tâm, sở cảm là cảnh giới. Ông là vua một nước lại có tấm lòng yêu thương bá tánh đến như vậy nên đã xoay chuyển được nạn châu chấu.

Chúng ta từ những câu chuyện thời Trinh Quán cũng có thể thể hội được khi Thái Tông xem “Quần Thư Trị Yếu” rất nhập tâm, cho nên khi ông gặp việc mới có thể khởi được thái độ như vậy.

Chúng ta xem câu tiếp theo. Trong chú giải “Lục Thao” của Khương Thái Công, đây là một bộ phận của “Văn Thao”. Văn Vương hỏi Thái Công: “Thiên hạ nhất loạn, nhất trị”, nghĩa là thiên hạ có lúc hỗn loạn, có lúc trị vì rất tốt; “Kỳ sở dĩ nhiên giả hà”, rốt cuộc thì nguyên nhân gì đã tạo thành có lúc dễ trị vì có lúc lại hỗn loạn, có phải là vì đại tự nhiên biến hóa như vậy hay không? Đây không phải là sự biến hóa tự nhiên của đại tự nhiên, là nguyên nhân gì vậy? Kết quả Thái Công nói:  

Kinh văn: “Quân vương không hiền minh thì đất nước nguy nan, nhân dân loạn lạc. Quân vương hiền minh thì đất nước an ninh, nhân dân yên bình. Sự họa phúc của đất nước nằm ở việc quân vương có hiền minh hay không, không nằm ở sự biến hóa của thiên mệnh”.

Người làm vua không hiền minh thì đất nước đó sẽ lâm nguy, còn nhân dân thì nhân tâm ly tán hỗn loạn, họ sẽ không có cảm giác an toàn. Vả lại, người quân vương không hiền minh rất có thể sẽ tham tài, tham sắc, vơ vét tiền của, vơ vét dân nữ, vậy thì người dân sẽ luôn sống trong lo sợ. Cho nên nói: “Quốc nguy nhi dân loạn”. Nhưng nếu quân vương hiền minh, “quân hiền Thánh” thì quốc gia yên bình. “Nhi thiên hạ trị”, chính là đời sống của nhân dân sẽ hạnh phúc trật tự, người dân sẽ tôn trọng quân vương  như đối với cha mẹ vậy. Cho nên họa phước của cả một quốc gia nằm ở việc vị quân vương hiền minh hay không hiền minh, không liên quan đến thay đổi của thiên thời hay vận mệnh.

Văn Vương cũng rất hiếm có, tiếp theo lại hỏi: “Cổ chi hiền quân khả đắc văn hồ”, quân vương hiền minh thì như thế nào? Việc nói rõ ở phía sau cũng giống như “Quần Thư Trị Yếu” mà lúc trước chúng ta đã nói, chính là “cách vật”, “tiết dục”, không tranh tài vật với nhân dân, không coi trọng sự hưởng thụ cá nhân trong đời sống, đồng cảm với cuộc sống của người dân. Đây là hiền minh quân vương.

Lời của đoạn “Văn Thao” này cũng khiến cho chúng ta, từ quốc gia mà nói, người lãnh đạo của quốc gia phải có sự kỳ vọng, sự phản tỉnh như vậy; người lãnh đạo trong một đoàn thể cũng phải nên tự yêu cầu như thế. Ở trong “Trung Dung” có một câu rất quan trọng: “Kỳ nhân tồn tắc kỳ chính cử, kỳ nhân vong tắc kỳ chính tức”. Câu này ở phía trước còn có một đoạn là “văn vũ chi chính, bố tại phương sách”, nghĩa là chính sự chế độ có ích cho dân của Văn Vương, Vũ Vương đều có ghi chép trong Kinh điển. Nhưng chế độ tốt như vậy đời sau có thể sẽ không nhất định trị được tốt như vậy, chủ yếu vẫn là vị quân vương đó có đức để vận dụng chế độ hay không. Cho nên chế độ vẫn là thứ yếu, người làm quân vương có đức hạnh hay không mới là mấu chốt. Ở đây nói: “Họa phước ở tại vua, không phải ở tại thiên thời”.

Kinh văn: Khổng Tử nói: “Trách cứ mình phải nghiêm khắc, trách cứ người khác phải độ lượng, như vậy có thể tránh xa oán hận”.

Trong câu này có chữ “hậu” và chữ “bạc”, đáng lẽ câu này phải ghi là “cung tự hậu trách, nhi bạc trách ư nhân”, nhưng chữ “trách” đã được lược bỏ. Nghĩa là một người biết kiểm điểm chính mình đều rất nghiêm khắc, kiểm điểm chính mình rất nặng, nhưng ngược lại, họ nhẹ nhàng độ lượng đối với người khác gọi là “bạc trách ư nhân”. “Tắc viễn oán h, là có thể tránh xa được sự oán hận của người ta. Tinh thần này cũng chính là chúng ta thường nói, đó là thái độ “nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người”. Ở đây cũng đã bao gồm nhân tình sự lý. Chúng ta yêu cầu chính mình thì ít, yêu cầu người khác thì nghiêm khắc, thông thường người ta sẽ rất khó tiếp nhận, đều cảm thấy anh còn chưa làm được yêu cầu tôi, người ta không thể tiếp nhận được, cho dù lời chúng ta nói đúng nhưng họ vẫn bài bác. Cho nên, thái độ “cung tự hậu” này rõ ràng phải nghiêm khắc đối với chính mình thì mới có thể gặp phải sự việc gì cũng không làm việc theo tình cảm, mới có thể làm việc bằng lý trí. Bởi vì một khi kiểm điểm, một khi chỉ trích người khác thì sẽ không lý trí. Cho nên, người có thể “cung tự hậu” thì rất rõ ràng tập khí của chính mình, phải kiên quyết hạ công phu mới có thể đối trị. Còn “bạc trách ư nhân” thì họ rất hiền hậu, đối với người khác không hà khắc. Tinh thần sức lực của con người nếu như đặt vào việc nhìn người khác thì muốn nhìn chính mình cũng thật không dễ. “Công ư luận nhân giả, sát kỷ tất sớ”, cho nên vẫn là phải tự chấn chỉnh rồi mới đi cảm hóa người khác, phải tự cầu chính mình sau đó mới có thể lấy đức mà cảm hóa người khác. Nếu không thì toàn bộ tinh thần của họ, đặc biệt là người lãnh đạo hoặc người làm quân vương, đều dùng vào việc chỉ trích lỗi lầm của người khác, họ chính là người không có công phu. Từ trên bản thân mình rút ra sự sửa lỗi.

Trong “Lã Thị Xuân Thu” có một đoạn gọi là “phàm sự chi bổn, tất tiên trị thân, thành kỳ thân nhi thiên hạ thành, trị kỳ thân nhi thiên hạ trị, vi thiên hạ giả, bất ư thiên hạ, ư thân”. “Lã Thị Xuân Thu” vừa mở đầu đoạn này: “phàm sự chi bổn”. Chúng ta chăm lo bất kỳ công việc gì đều phải từ căn bản hạ thủ. Căn bản bất luận là gia nghiệp hay sự nghiệp đều ở tại việc tu thân, ở tại việc tu dưỡng. “Đức giả, sự nghiệp chi cơ dã”, “đức giả, bổn dã”, cho nên thành tựu đức hạnh của chính mình. Quốc gia, đoàn thể, hoặc giả là quân vương mà đức hạnh của mình đã thành tựu rồi, quốc gia này thiên hạ liền an định. Cho nên, “thành kỳ thân, nhi thiên hạ thành, trị kỳ thân, nhi thiên hạ trị, vi thiên hạ giả, bất ư thiên hạ, ư thân”. Cho nên, tất cả Kinh luận kỳ thực đều là phối hợp với nhau, “thân tu rồi mới gia tề, gia tề rồi mới quốc trị, quốc trị rồi mới thiên hạ bình. Chúng ta nhìn thấy câu nói này, cái này là “thiên hạ”, đó là quân vương có thiên hạ. Chúng ta có thiên hạ hay không? Mỗi một người đều có thiên hạ của chính mình, mỗi người đều có cái nhân duyên của cuộc đời này. Trên thực tế, cuộc đời này con người đã gặp phải tất cả người sự việc đều có mối liên hệ mật thiết với chính mình.

Trên “Dịch kinh” nói: “Phương dĩ loại tụ vật dĩ quần phân”. Tâm chúng ta thiện thì cảm đến rất nhiều nhân duyên thiện, tâm ác thì cảm đến nhân duyên ác, cho nên bản thân phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với bản thân. Những câu Kinh này là nhắc nhở chúng ta, đây là thái độ quan trọng của đời người. Đời người kỳ thực là cảm ứng. Bạn mỉm cười với người ta, người ta sẽ mỉm cười lại. Bạn giữ gương mặt ủ rũ thì người ta cũng cười không nổi. Đạo lý giống như việc soi mình trong gương vậy. Chúng ta hôm nay soi gương, gương soi phản chiếu lại chính là thiên hạ của chúng ta. Vậy mọi người soi gương thấy mặt rất khó coi, còn có sát khí, rồi nổi giận, đem đập bể kính đi thì có giải quyết được vấn đề không? Đập bể rồi càng không thể soi gương. Cho nên không phải vấn đề nằm ở tấm gương soi, không phải vấn đề ở thế giới này, mà vấn đề nằm ở đâu? Là bản thân người soi gương chúng ta có vấn đề. Gương mặt vừa thay đổi thì trong gương không phải cũng thay đổi hay sao? Bởi vậy, là tâm thái của chúng ta không đúng phải không? Cái gương này đập bể nhiều hơn đi nữa thì vấn đề vẫn không được giải quyết.

Trong quá trình trưởng thành của chúng ta, rất nhiều người tự làm xấu mặt của chính mình, vấn đề cũng chưa được giải quyết, về sau vẫn còn tiếp tục làm xấu, sau đó lại cảm thấy: , có gì hay đâu chớ, đổi sang người bạn khác thì được rồi. Có gì hay đâu chớ, mình đổi sang một công ty khác thì được rồi. Kỳ thực người vì thiên hạ, không phải ở thiên hạ mà nằm ở chính chúng ta. Ngược lại, tất cả cảnh giới đều nhắc nhở chúng ta, chúng ta tu dưỡng vẫn còn chỗ nào đó chưa tới. Có tâm thái như vậy thì ngược lại cảm ơn những cảnh giới này đã nhắc nhở chúng ta, thành tựu chúng ta, thì sẽ không cảm thấy cảnh giới đối lập với chúng ta, thậm chí là chúng ta còn chỉ trích.

Được rồi, tiết học hôm nay giao lưu với mọi người đến đây thôi! Xin cảm ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 33 và 34)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 61


Hôm nayHôm nay : 4544

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 180511

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11143213

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?