Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 35 - 36)

Thứ ba - 03/10/2017 11:55

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Xin chào mọi người!

Chúng ta đã xem qua nhiều câu trong phần “phản thân”, trong phần “quân đạo” đã nhấn mạnh một điểm quan trọng. Giả như tôi không phải là vua một nước, cũng không phải là lãnh đạo của một đoàn thể, thì những lời giáo huấn này tôi có thể phụng hành không? Hiện giờ thiên hạ đang loạn, có phải là trách nhiệm của tôi không? Nếu nói thiên hạ loạn lạc đều có liên quan đến tôi, là trách nhiệm của tôi thì bản thân có cảm thấy bị thiệt thòi không? Liên quan đến tôi chỗ nào? Kỳ thực, chúng ta phải tin chắc là toàn bộ xã hội “nhân chi sơ, tính bổn thiện”, mỗi một ngành nghề, mỗi một vai trò đều có tấm gương tốt, có thể đánh thức bản tính lương thiện của con người. Vì vậy, chúng ta đối với dân tộc, đối với nhân loại có trách nhiệm, nên đi đầu làm gương, tạo ra ảnh hưởng tốt cho họ. Đây là bổn phận của chúng ta. Nếu chúng ta hiện giờ mỗi vai trò đều đóng thật tốt, thì chẳng phải đã cho họ xem một tấm gương tốt nhất rồi sao? Đây cũng là sự cống hiến lớn nhất trong thiên hạ.

Chúng ta hãy xem Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hồ Tiểu Lâm. Công ty của ông hiện nay đã tác động đến vô số các công ty khác. Vì sự an nguy trong thiên hạ, ông ấy đã làm một tấm gương rất tốt, thay đổi toàn bộ giới kinh doanh. Mỗi một người đều có thể làm lợi ích cực lớn cho thiên hạ, làm sao có thể nói sự an nguy trong thiên hạ không có liên quan gì đến chúng ta được? Mọi người xem trong Kinh điển, có câu nào nói sự an nguy của thiên hạ không có liên quan gì đến tôi không? Không có. Vậy sao chúng ta suy nghĩ không giống như trong Kinh điển vậy?

Tôi còn nhớ, từ nhỏ đến giờ thường nghe một câu nói: “Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách”. Lúc tôi xem phim võ hiệp có nghe: “Quốc gia tồn vong chi tế khởi khả ngôn nhi nữ tư tình”. Mọi người nghe qua câu này chưa? Rồi à? Đúng vậy! Thời khắc dân tộc và thiên hạ nguy vong không thể ở đó nói chuyện yêu đương được, vợ chồng cần phải đồng lòng làm tốt gia đạo, vì xã hội làm tấm gương.

Ở Đài Loan có một vị nữ sĩ tên là Trần Thụ Cúc được bầu chọn vào top 100 nhân vật có sức ảnh hưởng của tạp chí “The Times”. Hình như cũng được tạp chí “Forbes” bình chọn là anh hùng từ thiện, được cả hai giải thưởng tầm cỡ thế giới. Bà ấy làm trong lãnh vực nào vậy? Bán rau. Mười ba tuổi (tương đương với vừa tốt nghiệp tiểu học vào Sơ trung) thì mẹ của bà qua đời, toàn bộ trách nhiệm của gia đình đều đặt lên vai bà - một đứa bé mười ba tuổi. Sau này, cuộc đời của bà cảm nhận được cảm giác không có tiền giúp người thân trị bệnh, sau đó người thân mất đi. Đây là sự hối tiếc trong cuộc đời của bà. Bà đã đem sự hối tiếc đó biến thành động lực, đặc biệt những người khó khăn bà sẽ tận lực giúp đỡ họ về mặt kinh tế. Bà chỉ là một người phụ nữ bán rau mà đã quyên được mười mấy triệu Đài tệ. Có thể nói, bà đã hết lòng hết dạ từ bi hành thiện, hoàn toàn là cống hiến, không vì bản thân một chút nào. Bà có một câu nói hết sức triết lý: “Tiền nằm trong tay của những người không cần đến thì chỉ là con số”. Chỉ là một con số, nó không phát huy giá trị gì, nhưng khi tiền nằm trong tay những người gặp hết sức khó khăn, thì nó có thể sản sanh ra giá trị rất lớn.

Lúc tạp chí “the Times” ở Đài Loan bầu chọn bà vào top 100 nhân vật có sức ảnh hưởng, bà cảm thấy bà rất bình thường, nên bà không đi nhận giải thưởng. Kết quả, Chính phủ Đài Loan phải đi năn nỉ bà: Bà nên đi, bà đi là đại diện cho Đài Loan đấy, hình ảnh tốt đẹp về Đài Loan sẽ được đề cao tại quốc tế”. Bà đã vì năn nỉ mà đến tham dự, bởi vì bà tự cảm thấy đó đều là những việc bà nên làm. Đồng thời, trong 365 ngày bà đều hoan hỷ mà bán rau. Bà nói bà thích nhất là kiếm tiền. Điều quan trọng là ở phía sau, bởi vì kiếm càng nhiều tiền thì giúp được càng nhiều người, tuyệt đối không phải là kiếm được thật nhiều tiền rồi thì đi tiêu pha lãng phí. Bà hết sức cần kiệm. Hơn nữa, sau khi Đài Loan báo cáo về sự việc của bà, toàn thể xã hội đã xuất hiện một hiện tượng, đó là những người quyên góp những khoản tiền nhỏ tăng lên rất nhanh. Món tiền nhỏ quyên góp được có thể lên đến mấy trăm, một hai ngàn, càng ngày càng nhiều, bởi vì sức ảnh hưởng của bà. Có người cảm thấy, kinh tế của chúng ta còn tốt hơn của bà, bà ấy đã toàn tâm toàn lực vì xã hội này mà cống hiến, chúng ta thua xa bà ấy. Vì vậy, chỉ một người phụ nữ thôi đã có thể chuyển biến toàn bộ phong khí hành thiện, nên làm sao có thể nói sức mạnh của một người là nhỏ được.

Kinh tế, thể lực, năng lực của Lão tiên sinh Bạch Phương Lễ ở đại lục hầu như tất cả mọi người đều cao hơn ông, nhưng ông đã trở thành tấm gương hành thiện tốt nhất. Vì để cho thế hệ sau có sách để đọc, ông đã dùng xe ba bánh đi nhiều vòng quanh trái đất, quyên được hơn 300 ngàn nhân dân tệ, khiến vô số người cảm động, sau này còn dựng thành phim, đem tinh thần ấy tiếp tục truyền bá. Vì vậy, trong các ngành, các nghề đều có người ra sức thực hiện nhân - nghĩa - trung - thứ, thì đều có thể cảm hóa phong khí của một vùng. Tinh thần của bà Trần Thụ Cúc cũng đã trở thành tinh thần của người Đài Loan.

Tôi nói cho mọi người biết một điều rất quan trọng, là bà ấy mỗi ngày đều xem Sư trưởng giảng Kinh. Đây chính là điểm quan trọng, thế nhưng phóng viên viết báo đã không viết về điều này. Sau này, rất may khi tôi đi gặp người anh kết nghĩa (lần đó đến Malaysia), anh ấy có xem qua quyển sách này, nên mọi người chỉ cần lên mạng gõ “Bà Trần Thụ Cúc và Sư Trưởng” thì lập tức hiện kết quả ngay. Cho nên, chúng ta cảm thấy việc dạy học của Sư trưởng Ngài có giá trị rất lớn. Học trò của Ngài trong các ngành, các nghề đều y theo lời dạy của Ngài mà làm, đều có thể trở thành tấm gương trong mỗi ngành nghề. Cho nên, bà Trần đã có thể làm, thầy Hồ Tiểu Lâm đã có thể làm, chúng ta cũng phải “chớ tự chê, đừng tự bỏ, Thánh và Hiền, dần làm được”. Chỉ cần đem sự an nguy của thiên hạ đặt ở trong tâm thì chúng ta sẽ có thể làm được những câu Kinh điển này. Đồng thời, mục tiêu cả đời này của chúng ta là thành Thánh Hiền, phải không? Học hỏi Thánh Hiền chỗ nào đây? Học vóc dáng oai nghi của họ hay học động tác của họ vậy? Không phải. “Mộ hiền đương mộ kỳ tâm”, học theo tâm cảnh của họ.

Khổng Tử vì sao trở thành thánh nhân? Vì Ngài cảm thấy sự an nguy của thiên hạ là trách nhiệm của Ngài, cho nên Khổng Tử nói: “Không giảng thi thư, không học lễ nhạc, là lỗi của Khâu”.  Ngài đều cảm thấy là trách nhiệm của Ngài, Ngài không trách người trong thiên hạ đã phá hoại những văn hóa đó. Ngài tự nhắc nhở chính mình, đã tận tâm tận lực đem Thi thư, Lễ nhạc hoằng dương trở lại chưa? Cho nên, Khổng Tử đã nói: “Nên tự trách mình nhiều, trách người ít hơn”. Đây là tấm lòng của Ngài.

Chúng ta xem câu: “Nên tự trách mình nhiều” này thì nghĩ đến mối quan hệ trong ngũ luân. Khi xảy ra vấn đề, nếu bên này hoàn toàn không trách cứ bên kia, mà chỉ phản tỉnh lại mình, đây chính là đức hạnh, đây gọi là chí thành, có thể làm đối phương cảm động.

Ví dụ giữa vua và bề tôi.

Vào thời Xuân Thu, Sử Thu khuyên Vệ Linh Công nên dùng Cừ Bá Ngọc, không nên dùng Di Tử Hà, vì Di Tử Hà là nịnh thần, không phải là bề tôi tốt. Khuyên vua rất lâu mà Vệ Linh Công vẫn không chịu nghe. Nếu như chúng ta làm quan mà khuyên vua mấy năm trời mà vua vẫn không chịu nghe, chúng ta có tức giận hay không, chúng ta có bỏ cuộc hay không? Hoặc là nói: “Không biết lòng tốt của người khác, không cần, không thèm lo cho ông ta nữa”. Sử Thu không hề oán trách vua của mình là Vệ Linh Công. Cho đến lúc ông ấy lìa đời, ông cũng không hề trách vua mà ông chỉ tự trách mình không có năng lực để khuyên giải quân vương. Trước khi nhắm mắt, ông ấy vẫn còn lo nghĩ cho đất nước, gởi gắm lại cho con của ông: “Cha vẫn chưa tận hết lòng trung, cho nên sau khi cha chết rồi không có tư cách nằm ở chính giữa nhà, con hãy đem cha ra nằm bên dưới cánh cửa sổ là được rồi”. Ông nhắn gửi với con mình như vậy. Con của ông cũng rất hiếu thuận nên đã làm theo. Lúc Vệ Linh Công đến đọc điếu văn, kết quả khi nhìn thấy quan tài đặt ở bên hông nhà thì hết sức tức giận, nói với người con trai: “Ngươi là đồ bất hiếu, tại sao đặt áo quan của cha ngươi loạn phép như vậy?”. Người con ấy nói: “Đây là lời dn dò sau cùng của phụ thân thần lúc còn sống. Ông nói rằng ông vẫn chưa tận hết lòng trung, không thể khuyên bệ hạ dùng Cừ Bá Ngọc, đây là lỗi của ông, nên ông không có tư cách nằm ở chính giữa nhà”. Ngay cả lúc nhắm mắt mà ông vẫn không trách người khác, vẫn còn phản tỉnh lại chính mình. Đây là tấm lòng tận trung đến chí thành. Vệ Linh Công vừa nghe đã hết sức chấn động, sau khi về triều đã cách chức Di Tử Hà, trọng dụng Cừ Bá Ngọc.

Mọi người cần hiểu, một tên gian thần biến thành trung thần thì có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với đất nước và nhân dân.

Mối quan hệ quân thần là như vậy, mối quan hệ cha con cũng giống như vậy. Chúng ta đã thấy Đại Thuấn trong bộ “Nhị Thập Tứ Hiếu”, khi đối diện với sự thù địch và bức hại của cha mẹ ông, ông đều không để nó trong tâm, một lòng một dạ luôn nghĩ rằng bản thân mình vẫn làm chưa được tốt nên không thể cảm động người khác. Sau đó, ông đã dùng đức hạnh để cảm hóa cha mẹ và người em trai. Vì vậy, trong Ngũ luân, nếu như không thể khiến người khác cảm động, thì vẫn là do chúng ta “đức chưa tu, cảm chưa tới”. Điều này trong lịch sử, mỗi một mối quan hệ đều đã thể hiện rất rõ, đều cho chúng ta những tấm gương tốt nhất. Người khác làm được, chúng ta cũng có động lực theo đó mà làm. Điều quan trọng chính là bất cứ lúc nào cũng không được oán trách người khác, mà phải phản tỉnh chính mình. Chúng ta hãy đem những vở kịch hay này trong quyển “đức dục khoa bổn” diễn thành đời sống của chính chúng ta.

Trong mối quan hệ anh em, tiên sinh Mậu Đồng có bốn người anh em. Cha ông đã qua đời từ sớm, nên các anh em sống chung với nhau. Kết quả, sau này khi anh em trưởng thành đều kết hôn, những người em dâu có lúc cãi nhau, xung đột, cuối cùng cãi đến mức phải phân chia tài sản. Mọi người ai cũng đòi chia nhà, không chịu sống chung nữa. Chúng ta hãy suy nghĩ về tình hình gia đình của ông Mậu Đồng. Từ bé, các em nhỏ đều do ông chăm sóc, sau cùng giúp họ cưới vợ, ổn định cuộc sống, vậy mà cuối cùng thì tranh giành phân chia gia sản với ông. Nếu các vị là anh cả thì sẽ làm sao? Có phải sẽ lập tức nói: “Tiền các em ăn học đều là do anh cho, lúc em mới lên ba đều là do anh nuôi dưỡng, sao bây giờ em lại như vậy? Em làm vậy có xứng đáng với anh không?”. Được rồi! Có thể tôi đã xem phim bộ nhiều quá. Xin hỏi mọi người, em của các vị ở đó đòi chia gia sản, các vị ở đó giảng đạo lý thao thao thì nó có tiếp nhận không? Vì vậy, gia đình không phải là chỗ giảng đạo lý, trong gia đình mà nói nhiều đạo lý quá thì mất hết tình nghĩa. Ông Mậu Đồng lúc đó quả thật đã không oán trách các em. Ông tự mình đóng cửa, ngửa mặt lên trời nói: “Mậu Đồng ơi, ngươi cả đời đọc sách Thánh Hiền, tu dưỡng bản thân, cẩn thận ngôn ngữ cử chỉ của mình, còn muốn dùng đức hạnh để cải thiện phong tục xã hội”. Đây là mục đích của việc đọc sách Thánh Hiền, thay đổi xã hội. Kết quả, hôm nay ngay cả các em mà cũng không thể cảm hóa được thì thật là xấu hổ với Thánh Hiền. Nói được một hồi, ông ấy đã đánh luôn chính mình. Kết quả, sau khi các em trai và em dâu phát hiện tình hình này hết sức hoảng sợ, lập tức tông cửa vào. Tất cả đều quỳ xuống đất nói: “Đại ca, anh đừng làm như vậy!. Kỳ thực, Mậu Đồng lúc đó không hề có tâm oán trách mà đang chân thành phản tỉnh lại chính mình, đã làm xúc động đến lương tâm của các em trai và em dâu. Thành thật mà nói, bọn họ có biết anh trai đối với cuộc đời của họ rất quan trọng hay không? Đương nhiên là biết. Vậy sao đã biết rồi mà cũng còn có lúc đột nhiên hồ đồ như vậy? Dục vọng kéo đến rồi thì cũng có lúc đầu óc hơi choáng váng. Nhờ sự phản tỉnh chí thành của anh trai như vậy, đã khiến cho lương tâm của họ được thức tỉnh, sau đó thì cả nhà đoàn kết trở lại. Cho nên, ông Mậu Đồng trong mối quan hệ anh em đã có thể phản tỉnh, nên chí thành cảm thông.

Lời bình trong tác phẩm câu chuyện về Bát Đức có một đoạn nói rất hay, đó là lời bình của Hứa Chỉ Tịnh tiên sinh. Hứa Chỉ Tịnh tiên sinh cũng là một người học thức lớn đầu thời Dân quốc, có tu dưỡng rất tốt. Ông đã viết một đoạn chú giải rằng: “Thiên địa gian, trừ tự trách tự tận ngoại, canh vô đạo lý h. Đạo lý trong trời đất, thái độ xử thế, chỉ cần thời thời nắm vững việc phản tỉnh bản thân, sự việc này xảy ra tôi đã sai ở chỗ nào? Lúc này không được bị cảm xúc cá nhân tác động, cảm tính hóa. Bởi vì người phản tỉnh thấy mình có thiếu sót thì sẽ không nổi nóng, sự tức giận đó sẽ hạ xuống, tự biết mình đã sai. Không chỉ tự mình phản tỉnh, trái lại còn tận tâm tận lực. Bất kể sự việc gì xảy ra: Tôi làm cách nào để cải thiện, tôi làm sao để bù đắp. Người luôn luôn tự trách, tự xét sẽ không bị tình cảm chi phối, bất kể tình huống có xấu đến đâu đều quay về xem chính mình: “Tôi đã làm sai chỗ nào, tôi làm sao để thay đổi tốt nó”, không đi chỉ trích, không tạo đối lập, xung đột.

“Canh vô đạo lý h. Kỳ thực, tất cả đạo lý nhất định phải tương ứng với tinh thần “tự trách tự xét” này. Đây chẳng qua dùng câu chữ khác để giải thích những đạo lý này. Chúng ta đọc Kinh điển cũng không ít, nhưng “niệm Phật tham thiền như đã ngộ, hồng trần cuồn cuộn vẫn y nguyên”, khi đích thực đụng chuyện rồi, một câu Kinh cũng không nói ra nổi, phải nổi nóng thế nào thì vẫn nổi nóng như thế đó. Câu này rất hay!

Lần trước, tôi vừa mới tham gia khóa học, có một vị học trưởng yêu cầu tôi tặng ông ấy một câu khẩu hiệu. Tôi cảm thấy câu này rất hay: “Thiên địa gian, trừ tự trách tự tận ngoại, canh vô đạo lý h. Kỳ thực, bất kỳ sự việc gì xảy ra, chỉ cần tôi là người trong cuộc, tôi nhất định có điều sai sót, nếu không thì đã không xảy ra việc như vậy.

Vừa rồi tôi đã kể mọi người ví dụ rồi, chỉ cần một người chú ý đến và tỉnh táo thì sự việc này sẽ không xảy ra. Ví dụ, chồng của các vị rất bận bịu, quên đem theo tập tài liệu quan trọng đó, lúc này thì trách ai? Đương nhiên, trước tiên là do anh ấy làm việc không cẩn thận. Tuy nhiên, nếu như con của anh ấy lưu ý giúp cha một chút, người nhà để ý giúp anh ấy, thì sự việc này có thể sẽ không xảy ra. Nên vì sao có câu: “Có vợ hiền thì chồng ít tội”. Nếu như mọi sự mọi việc người vợ đều biết phụ tá cho chồng, thì những việc sai sót của anh có thể sẽ không xảy ra. Cho nên, cái từ “tự trách” này rất hay. Không phải khi chuyện xảy ra rồi cứ khăng khăng đi trách cứ người nào đó, vì như vậy sự việc cũng không có tốt hơn.

Nói đến đây, chúng ta cũng cần tập thành một thói quen, việc này đối với việc nâng cao tâm tính của chúng ta rất có lợi ích. Bất kể người nào đụng phải bạn, bạn trước tiên hãy nói với anh ấy: “Tôi xin lỗi”. Khó không vậy? Không khó, nhưng phải dụng tâm lắm mới được. “Rõ ràng là anh ấy đụng vào tôi, còn bị đau đây này, còn bắt tôi đi xin lỗi anh ấy à? Sao anh ấy không đụng người khác, mà lại đụng vào tôi chứ?. Nếu như bạn tập được thói quen này, người ta đụng vào bạn: “Tôi xin lỗi!, tôi bảo đảm với các bạn, anh ấy tuyệt đối sẽ không xung đột với bạn, thậm chí anh ấy còn cảm thấy có phần áy náy. Con người ai cũng có lương tâm. Nhưng nếu như anh ấy đụng vào bạn, bạn nói: “Anh không có mắt à?, có thể sáng mai báo chí sẽ đăng tin có người bị đụng xe rồi đánh nhau, đúng không? Bất kể khi nào cũng đều phản tỉnh lại chính mình. Bạn nói: “Hôm nay tôi đã tránh anh rồi, vậy mà vẫn tông vào tôi, bởi vì tay chân tôi không đủ linh hoạt”, đúng không? Đều có thể phản tỉnh lại được. Tuy nhiên, rất kỳ diệu là người và người chiêu cảm lẫn nhau. Rõ ràng là anh ấy đã sai, chúng ta vẫn tự phản tỉnh để khiến cho lương tâm của đối phương thức tỉnh lại. Kỳ thực, người ta nếu như mỗi ngày đều dán mắt để nhìn xem người khác sai chỗ nào, người đó sẽ không vui sướng nổi. Nhưng nếu phản tỉnh lại sai sót của chính mình thì đức hạnh sẽ không ngừng nâng cao. Đây là một điều vui vẻ nhất.

Còn có từ “tự tận”, chính là tận tâm tận lực. Bất kể sự việc rơi vào tình cảnh nào, chúng ta chỉ suy nghĩ làm cách nào khiến việc này được tốt đẹp, làm cách nào để vực dậy đoàn thể, không có ý niệm nào khác. Cái này gọi là  “Trung”. Người mà lúc nào cũng muốn tận tân tận lực chính là người trung nghĩa.

Vừa rồi, tôi đã cùng mọi người nói đến những lời giáo huấn về việc trị vì quốc gia và thiên hạ, chúng ta có thể dùng để yêu cầu chính mình được không? Được. Thật sự yêu cầu bản thân như vậy thì đời này của bạn không thành Thánh cũng thành Hiền. Có thể thực hành “Đệ Tử Quy”, “Thánh và Hiền, dần làm được”.

Chúng ta hãy xem tiếp câu số 33, quyển số 2, trang 231. Đây là lời giáo huấn trong sách Luận ngữ.

Kinh văn: “Người ở bên trên đã đánh mất đạo làm chính sự thì lòng dân ly tán đã lâu. Nếu hiểu được sự tình của việc người dân phạm tội thì nên xót thương, cảm thông với họ, chứ không phải vì khả năng phán án của mình mà dương dương tự đắc”.

Phía dưới có phần chú thích nói: “Dân chi ly tán, vi khinh phiêu phạm pháp, nãi thượng chi sở vi, phi dân chi quá dã, đương ai căng chi, vật tự hỷ năng đắc kỳ tình dã”.

Chú giải này là y cứ theo Kinh văn: “Dân tán cửu h, lòng dân ly tán, hành vi sai lệch. Đây là kết quả, nguyên nhân là cấp lãnh đạo không có dạy dỗ họ. Do đó, “Tam Tự Kinh” đều đem mối quan hệ nhân quả nói với chúng ta: “Nuôi con mà không dạy là lỗi của cha. Dạy trò không nghiêm là do thầy bê trễ”. Một người lãnh đạo cũng phải kiêm luôn các vai trò này. Ông ấy là quan phụ mẫu, cha mẹ của dân, ông phải có trách nhiệm giáo hóa dân chúng, đồng thời làm gương cho dân chúng, làm thầy. Bởi vì người lãnh đạo đã không thể thực hiện được chánh đạo trị nước, làm sai lệch đạo trị nước, thậm chí còn phóng túng tập khí, dục vọng, trên làm sao dưới làm theo vậy, mới khiến cho lòng dân ly tán.

Câu: “Như đắc k tình” có nghĩa là nếu như thật sự đi điều tra toàn bộ sự thật về người dân phạm tội này, nếu như chân thành hiểu rõ sự việc rồi, tự nhiên sẽ rất xót thương dân chúng. Bởi vì, người dù đáng ghét vẫn có chỗ đáng thương. Chúng tôi trước đây dạy học ở trường có thể cảm nhận sâu sắc được điều này. Nhìn thấy một vài em học sinh có hành vi không tốt, đã điều tra về gia đình em. Nếu không phải cha ham chơi lười biếng thì gặp phải cảnh mẹ đã qua đời. Tâm lý của trẻ chưa thể ổn định lại, mỗi ngày mải mê tại tiệm Internet, mẹ kế cũng không quan tâm em. Do đó, khi nhìn trên hành vi thì thấy không đúng, nhưng một khi đã hiểu rõ nguyên nhân thì cảm thấy rất xót thương em. Trẻ nhỏ như vậy thì người phạm tội cũng như vậy, đều thiếu sự giáo dục tốt đẹp của gia đình, trường học và xã hội, nên mới trở thành kết quả như vậy. Nếu như một người lãnh đạo đất nước có thể nắm vững sự giáo hóa, có thể hoằng dương giáo dục luân lý đạo đức và giáo dục nhân quả, thì con trẻ sống trong nề nếp xã hội như vậy, trong sự giáo dục của gia đình như vậy đều là người thiện cả. Con người nhất định có thể dạy trở thành tốt, chỉ là do chúng ta dạy hay không dạy.

Ở Lô Giang, chúng tôi có cơ hội ba năm giao lưu về văn hóa truyền thống cùng với người dân, lúc đó cũng là dạy “Đệ Tử Quy”. Kết quả là, tỉ lệ phạm tội chỉ trong một năm đã giảm xuống rất nhanh, giảm được 47%. Các vị xem, hiện nay đại đa số các nơi trên thế giới, tỉ lệ phạm tội như thế nào? Gia tăng. Vậy tại sao chỉ dạy một năm mà đã giảm được 47% rồi, sau đó tỉ lệ ly hôn cũng giảm xuống rất đáng kể, hình như đã giảm xuống khoảng 50%. Mà những cặp vợ chồng ly hôn đều là hộ khẩu còn lưu tại trấn Thang Trì nhưng sống ở nơi khác, không sống trong thị trấn Thang Trì. Điều này tương đương với việc người dân học văn hóa truyền thống trong sáu năm tại trấn Thang Trì không có cặp vợ chồng nào ly hôn. Điều này đã chứng minh “nhân chi sơ, tính bổn thiện”, đúng không? Ai cũng có tình nghĩa hết, chỉ cần có người nhắc nhở, có ai muốn mình làm phải việc sau này hối tiếc chứ? Cho nên, “ai căng nhi vật h, nên thương xót họ. Chúng ta là cấp trên đã làm công tác giáo dục tốt chưa, nếu không sao lòng dân trở thành như thế này? Cho nên, câu này nhắc nhở người làm lãnh đạo cần phải đem việc giáo hóa dân chúng đặt ở vị trí quan trọng nhất.

Vào thời xưa, Thượng thư thuộc cấp bộ trưởng, Lễ Bộ Thượng thư xếp ở vị trí số một, chính là người quan trọng nhất, những bộ khác đều phải hỗ trợ cho ông để giáo hóa nhân dân. Khi Tể tướng không có mặt thì đều do Lễ bộ thượng thư làm thay cho Tể tướng. Tầm quan trọng của ông ấy không thể thấy hết được. Bởi vì, ai cũng rất sợ những vị quan này quên mất trách nhiệm quan phụ mẫu của mình, lúc kết tội nhân dân còn cảm thấy công trạng của chính mình cũng không tồi, đây là hoàn toàn sai lầm. Sau khi phá án xong thì rất vui mừng, còn được thưởng công đầu nữa. Tâm thái như vậy sẽ lệch khỏi tâm thái của một người làm quan phụ mẫu. Vì vậy, “nên xót thương, chứ đừng tự đắc”.

Trong sách Đại học, Khổng Tử có nói một câu khiến chúng ta rất bội phục nhân cách của Ngài. Ngài nói rằng: “Thính tụng, ngô do nhân dã. Tất dã, sử vô tụng hồ!”. Chúng ta có thể từ câu nói này của Khổng Tử thấy được tâm cảnh của Ngài. Ngài nói, giải quyết một vụ tranh tụng nào cũng nên theo pháp xử lý. “Ngô do nhân dã”, nghĩa là đều xử kiện công bằng như các phán quan khác. Nhưng mà tâm của Khổng Tử còn hy vọng điều gì nữa? Là “thiên hạ không có sự kiện tụng nào cả”. Chữ “tất” này là hy vọng sau này thiên hạ không còn xảy ra việc tranh tụng không vui như vầy nữa, và chữ “tất” này cũng chỉ sự tận lực giáo hóa cả đời của Khổng Tử, hy vọng có thể chân chánh thực hiện được lý tưởng chính trị như vậy. Khi Khổng Tử thực sự có cơ hội, Ngài đã thực sự làm được. Lúc đó, Khổng Tử Ngài đang cai trị một huyện, quả thật trong một thời gian ngắn thì “không ai tham của rơi, tối trời không đóng cửa”. Chữ “tất” này, chúng ta phải nhìn thấy sự tận lực giáo hóa cả đời của Khổng Tử chính là tấm lòng trung của Ngài đối với thiên hạ, chữ “tất” này chính là tôi đến chết cũng xin tận tâm tận lực vì mục tiêu này mà nỗ lực. Điều Khổng Tử hy vọng đó là: “Người già được an nhàn, bạn bè giữ lòng trung tín, trẻ em được quan tâm chăm sóc”, “người già có chỗ yên nghỉ cuối đời, người khoẻ mạnh có chỗ dùng, trẻ thơ được trưởng thành”. Tuy nhiên, điều này cần dựa vào giáo hóa. Cho nên, trong cách nói của Khổng Tử đều đã biểu hiện ra đạo Trung nghĩa, khoan thứ đối với nhân dân.

Vì sao Ngài lại hy vọng không còn có tranh tụng? Kỳ thực, chỉ cần kiện cáo ra tòa thì việc này cũng là điều không may rồi. Ai không may vậy? Hai bên đều không may. Đến lúc này rồi, tại công đường kỳ thực rất khó giải quyết điều ấm ức của hai bên. Cho nên, giáo dục chính là phòng lỗi trước khi lỗi xảy ra. Chúng ta hiểu được, sau khi hai bên tố tụng rồi cả hai đều đau khổ, đây là đạo “thứ” (tha thứ), đồng cảm, hy vọng từ đây về sau giữa người và người sẽ không có xung đột để kiện cáo.

Ở đại lục có một vụ án. Hai người thanh niên nảy sinh xung đột, hình như là vì mấy trăm bạc, đã lỡ tay đánh bạn mình chết. Sau đó, tòa tuyên án người thanh niên này tội chết. Đột nhiên có người cầu xin cho anh ấy, ai đã cầu xin giúp người thanh niên này vậy? Là mẹ của người đã bị hại chết. Bà hướng về Chánh án cầu xin: “Xin đừng kết án tử hình đứa trẻ này, bởi vì tôi cảm nhận sâu sắc được tấm lòng của người mẹ của đứa con này. Giả như, con của bà ấy phải chấp hành án tử thì bà ấy cũng sẽ đau khổ như tôi, bởi vì tôi bây giờ đã chịu nỗi đau mất con, tôi hiểu rất rõ”. Đặc biệt ở đại lục, một đứa con mới có hai mươi mấy tuổi thôi đã chết như vậy. Cái khổ đó, nỗi đau đó, người mẹ này đã thấu hiểu rõ. Vì vậy, một người mẹ như vậy đã khiến cho người khác bội phục. Cái mà bà nêu ra chính là sự đồng cảm với đối phương, đồng cảm với người mẹ của đứa con phạm tội này. Cho nên, ngày nay chúng ta nhìn thấy trong xã hội có vô vàn sự bất hạnh trong gia đình và xã hội, nếu như chúng ta là người làm công tác giáo dục, chúng ta cũng phải cảm nhận lòng của người khác.

Các em lúc học tiểu học, trong quá trình đi học, nếu như nhận được sự giáo dục tốt đẹp thì cuộc đời của các em sẽ không biến thành như vậy. Thậm chí, chúng ta cũng phải học theo gương Khổng Tử: “Hy vọng thiên hạ không có kiện tụng nào”. Đời người nếu không muốn có những bất hạnh này, chỉ cần người ấy hiểu lý lẽ là được. Nếu tâm địa của người ấy lương thiện, “đạo trời không có tình riêng mà luôn hướng về người lương thiện”, thì cuộc đời của người ấy sẽ hạnh phúc. Đặc biệt trong xã hội ngày nay, con người không hiểu luân lý đạo đức, nhân quả, nói rằng không có tai nạn. Việc này cơ hồ rất khó, bởi vì anh ta có thể gặp một số người không hiểu lý lẽ, bản thân anh ta không hiểu biết, thì nhất định sẽ xung đột với người khác, nhất định sẽ có rất nhiều đau khổ. “Lý đắc thì tâm mới an”. Cho nên chúng ta phải mong mỏi bản thân mình đem những trí huệ của Thánh Hiền giới thiệu cho tất cả những bạn bè thân thích mà mình quen biết. Đây là trách nhiệm của chúng ta, “hy vọng thiên hạ không còn kiện tụng nữa”, hy vọng sẽ khiến họ được vui vẻ. Những gia đình của bạn bè thân thích chúng ta gặp chuyện bất hạnh, thân thể gặp vấn đề, có vô vàn vấn đề như vậy, chúng ta cũng có trách nhiệm, chúng ta đã không trân quý mối nhân duyên này mà đem bảo bối văn hóa truyền thống tặng cho họ. Nếu như họ chịu nghe cách xử thế của Nho gia thì đời này của họ sẽ được hạnh phúc. Cách trị thân và dưỡng thân của Đạo giáo, đạo lý dưỡng thân của Đạo giáo hay vô cùng. Cách trị tâm của đạo Phật có thể khiến cho thân tâm của họ được an lạc, tốt hơn nữa còn có thể liễu thoát sanh tử. Mục tiêu này càng cao hơn, đừng đi làm việc sanh tử luân hồi nữa. Đương nhiên, lập ra mục tiêu này rất tốt, tuy nhiên còn phải tùy theo người mà dạy. Lòng tốt đừng nên vồ vập thái quá, khéo quá hóa vụng. Dạy người hành thiện đừng đưa ra tiêu chuẩn quá cao, phải tùy theo khả năng của người, thì mới khiến người có thể làm theo được.

Ví dụ, hôm nay các bạn nghe xong câu chuyện về Trần Thụ Cúc, rồi về nhà nói với người thân là “chúng ta phải học theo bà ấy, đem tất cả tiền cho hết đi!. Sau đó, họ mỗi lần nhìn thấy bạn thì sợ chết khiếp. Bạn nói: , tinh thần của bà ấy thật khiến người bội phục!”.

Tôi gần đây có nhận nuôi một đứa trẻ ở miền núi, sau đó nói đến chuyện này thì người khác tự nhiên sẽ nói: “Vậy tôi cũng nhận nuôi một đứa”, đúng không ạ? Đừng đưa ra tiêu chuẩn quá cao, đừng để người khác cảm thấy áp lực. Tôi trước đây không hiểu đạo lý này, nên đã “tỏ ra vẻ hơn người” không ít lần. Ví dụ nói, là giảng văn hóa truyền thống cho người khác rất tốt, tôi trong chốc lát đã đem mười quyển sách đưa cho người ta. Mười quyển sách làm cho người ấy sợ chết luôn. Nên tặng từng cuốn, từng cuốn mới tốt, một lúc đưa nhiều cuốn như vậy thì người ta sẽ cảm thấy “đây đều là những đồ vật của Thánh Hiền, không biết nên để ở đâu bây giờ”, ngay cả chỗ để thôi cũng đã sanh phiền não rồi. Cho nên, cần phải thấu hiểu lòng của đối phương, không nên quá hấp tấp. Đây là những lời vô cùng khẩn thiết của Tăng Tử khuyên bảo chúng ta.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 (tập 36)

Tiếp theo chúng ta xem câu thứ 34, quyển số 2, trang 234, hàng đầu tiên. Đây là lời cảm thán của đức Khổng Tử. Chúng ta nhìn hàng đầu tiên, Khổng Tử cảm thán nói …. Chúng ta lật lại trang 233, xem một điển tích về Khổng Tử làm Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ở nước Lỗ, làm lãnh đạo cao nhất trong Bộ Tư Pháp.

Có hai cha con kiện nhau ra tòa. Khổng Tử không có phán quyết ngay mà bắt cả hai người giam lại, nhốt vào ngục. Ba tháng trôi qua cũng không ngó ngàng gì đến, kết quả người cha đã chủ động thỉnh cầu: “Tôi không kiện con tôi nữa”. Sau đó, Khổng Tử đã xá tội cho họ để cho hai cha con về nhà. Cháu nội của ông nghe được chuyện này đã không vui, “bất duyệt”, nói với Khổng Tử: “Ông à, ông đã gạt cháu phải không? Trước đây ông đều bảo cháu, những người vì đất nước, trước tiên phải dùng đạo Hiếu để trị thiên hạ, vậy mà hôm nay đứa con đó bất hiếu như vậy, cha nó phải đi kiện nó, sao ông không xử phạt đứa con này để về sau người trong thiên hạ đều hiểu được đạo Hiếu. “Lục nhất bất hiếu”, nghĩa là cứ bất hiếu là đem đi giết để dạy người trong thiên hạ thực hành hiếu, điều này không phải là tốt sao, tại sao lại thả hắn ra chứ?. Mọi người thử suy nghĩ xem, nếu thật sự đem đứa con giết đi thì người trong thiên hạ có hiếu được không? Có thể bị sợ chết khiếp: “Tôi phải đối xử tốt với cha mẹ tôi, nếu không tôi sẽ bị chém đầu”, vậy thì cái hiếu đó không phải là thiên tính rồi. Bởi vì, hiếu là thiên tính nên phải thuận theo nhân tính mà phát khởi ra mới đúng. Vì vậy, Khổng Tử cảm thán than là: “Ồ! sao mọi người lại dùng phương pháp này?”. Sau đó Ngài nói: “Hỡi ôi! (một cách cảm thán), “thượng thất kì đạo”, nghĩa là người lãnh đạo không chịu làm gương tốt, cũng không dạy dỗ nhân dân. “Nhi sát kì hạ”, không dạy dân đạo hiếu. Hiện giờ người dân bất hiếu thì lại đem họ giết đi là “phi lí dã”, điều này không hợp lý. Bạn không dạy họ thì lỗi không phải do họ, mà lỗi thuộc về trách nhiệm của những người làm lãnh đạo. “Bất giáo dĩ hiếu nhi thính k ngục, thị sát bất cô dã”, chúng ta không dùng hiếu đạo cảm hóa nhân dân, mà lại đi phán xét tội của họ, rồi đem họ nhốt vào lao ngục, thậm chí còn đem xử tử hình, đây chính là “sát bất cô”, giết người vô tội. Kỳ thực, giả như người này thực sự bị giết rồi, chúng ta thử nghĩ xem cha của anh ấy có vui không? Cha của anh ta là nhất thời tức giận, nếu con trai thật sự bị án tử hình, điều này có thể trở thành sự hối hận cả đời của người cha này, chỉ là sự nóng giận tức thời mà gây nên.

Dòng sông 5.000 năm lịch sử này, có người cha nào nói là “tôi đã kiện con tôi khiến nó bị tử hình rồi, tôi rất vui sướng” không? Làm gì có chuyện con cái hư mà cha mẹ vui mừng chứ, hình như tôi chưa hề nghe qua. Điều này trái ngược nhân tính. Cho nên, cách làm này của Khổng Tử một mặt là để các vị lãnh đạo trước tiên phản tỉnh xem mình đã dạy dỗ dân chưa, nếu chưa dạy thì không thể xử phạt dân chúng được. Mặt khác là phải thấu hiểu lòng người, trong lúc xử án không chỉ có pháp luật mà còn nên cân nhắc về mặt tình lý nữa. Nếu không như vậy, đến lúc thật sự chấp pháp sẽ khiến dân chúng sau cùng hối hận cả đời cũng nên. Thậm chí, còn nên thông qua sự việc này nhắc nhở dân chúng, trấn an, giáo hóa nhân dân. Nếu dùng pháp luật giải quyết thì oán kết giữa hai bên mãi mãi không thể nào hóa giải. Nghe có vẻ rất công bằng: “Được rồi, ly hôn đi, tài sản này là của anh, phần kia của họ”, có công bằng hay không vậy, có công bằng nổi không? Xem ra có vẻ là làm theo luật pháp, nhưng trên thực tế trong lòng lại bất mãn, oán hận, đối lập, vẫn không thể hóa giải.

Tôi có quen một người bạn làm luật sư. Khi người ta tìm đến anh ấy xin ly hôn, anh ấy đều ráng hết sức giúp họ hóa giải xung đột, chỉ khi nào hóa giải không được anh nói: “Vậy các vị đi tìm người khác đi, tôi không thể giúp người khác ly hôn”. Đã khuyên giải rất nhiều cặp vợ chồng, nên vị luật sư này đã tích được âm đức. Giả như muốn có thành tích, khi người ta muốn ly hôn thì nhanh chóng giúp họ ly hôn, mặc dù kiếm được tiền nhưng có thể đã tạo ra tội rồi. Điều này trong lịch sử đã có xảy ra.

Trong sách “những tấm gương đạo đức thời xưa” có một câu chuyện có thật về một người học vấn rất tốt, vợ của anh đều nhìn thấy trên đầu của anh ấy có ánh sáng, nhưng một lần nọ về đến nhà thì không thấy ánh sáng nữa. Vợ của anh rất kinh ngạc nói: “Hôm nay anh đã làm những việc gì?”. Anh nói: “Hôm nay có người nhờ anh giúp họ viết đơn kiện, anh giúp anh ấy viết xong thì ngày mai anh ấy sẽ đến tòa thưa kiện”. Người vợ đã hiểu ra. “Anh hãy mau mau lấy tờ đơn kiện đó lại đi”. Việc này là giúp người khác kiện cáo. Kết quả, anh ấy nghe xong rất kinh ngạc. Người vợ thì hiểu rõ sự việc. Anh ấy lập tức đi hòa giải, đem tờ đơn kiện ấy về, ánh sáng liền trở lại. Cho nên, họa phúc của con người đều ở trong một niệm.

Hình như tôi trước đây đã kể cho mọi người nghe một ví dụ, chúng ta nhân tiện đây nhắc lại lần nữa. Có một anh học trò họ Lý đi thi, trước khi vào trường thì anh ấy ở trọ tại một quán trọ. Khi anh vừa đến thì ông chủ đối với anh hết sức nồng hậu, phục vụ hết sức chu đáo. Anh ấy rất kinh ngạc: “Ông chủ này mới gặp mình thôi mà sao đối với mình tốt như vậy”. Anh hỏi ông chủ. Ông chủ nói: “Tối hôm qua tôi nằm mộng, thần thổ địa nói với tôi người đỗ tiến sĩ năm này là một thư sinh họ Lý, hôm nay sẽ đến quán trọ của tôi. Anh hôm nay đã đến, vô cùng vinh hạnh!, nên đã chiêu đãi rất tốt. Người học trò họ Lý này đã nghĩ: Năm nay ta có thể thi đỗ, thật là mừng quá, đến nửa đêm lại nghĩ: “Hồi xưa sao mình lấy vợ sớm thế, vợ lại không đẹp, mình sắp đỗ tiến sĩ rồi, có thân phận, có địa vị, cũng nên nghĩ cách thay vợ khác mới được”. Hai ngày sau anh ta đi thi, ông chủ quán lại nằm mộng thấy Thổ địa nói với ông: “Tên họ Lý này chưa thi đậu đã nghĩ đến việc đổi vợ, cái ý niệm này đã khiến phước báo của hắn tiêu hết, hắn sẽ không đậu”. Sau đó, anh học trò họ Lý quay về, quả thật thi không đậu. Ông chủ đã đem lời của Thổ địa kể lại với anh ta. Anh học trò xấu hổ đến nổi không thể ở lại quán trọ, lập tức dọn đi. Dù sao cũng may anh ta còn biết xấu hổ, tâm xấu hổ này nếu có thể làm được thật sự thì có thể chuyển vận mạng. Cho nên, sách “Liễu Phàm Tứ Huấn” nói với chúng ta, sửa lỗi cần phát ba thứ tâm. Tâm thứ nhất là tâm xấu hổ, tiếp theo là phát tâm kính sợ; kính sợ thiên địa quỷ thần, sau là phát tâm dũng mãnh, đoạn ác tu thiện. Cho nên, một niệm sai lầm sẽ khiến họa phúc một trời một vực. Từ những câu chuyện này, chúng ta phải hiểu rằng, rất nhiều việc chấp pháp trong thế gian cần phải phù hợp với quy luật của trời đất, theo luật trời, không thể theo quy định của một quốc gia nào. Chỉ cần ta làm trái với đạo trời thì sẽ gặp tai ương, đây không phải là chuyện may rủi.

Ví dụ bạn nói, hôm nay người trong nhà này chuyên môn mở sòng bạc, các bạn nói mở sòng bài thì đúng hay sai? Tất nhiên là sai rồi. Pháp luật không chế tài người đó thì luật trời sao không thể trừng trị người đó chứ. Ở thế gian này, anh ta hối lộ đến mức cảnh sát không đến gây khó dễ, nhưng ông trời sẽ làm điều đó. Con người hiện giờ đều dùng mưu mẹo nhỏ, nhưng người tính không bằng trời tính. Các vị xem nước Mỹ, khi cơn lốc tài chính thổi đến thì tiền kiếm được đều bỏ vào thị trường chứng khoán, kiếm được rất nhiều tiền, điều này gây hại cho ai? Gây hại cho người trong thiên hạ, gây hại đến kinh tế toàn cầu. Ồ, họ đã tạo ra cái nghiệp lớn như vậy. Tiểu nhân oan uổng vẫn làm tiểu nhân, vì không hiểu đạo lý, chỉ thích dùng mưu mô, trái ngược đạo trời. Hiện giờ vẫn có quốc gia cho đánh bạc, theo lời dạy của lão tổ tông thì việc làm này không hề thỏa đáng. Tôi chỉ dám nói “không thỏa đáng” thôi. Vừa rồi chúng ta có giảng đến việc “soi sét lại chính mình”, việc này là do họ vẫn chưa được biết “Đệ Tử Quy” và “Liễu Phàm Tứ Huấn”, chúng ta nên dành thời gian nói chuyện với các quốc gia này.

Kỳ thực, ông trời rất từ bi, trước khi giáng họa cho người đều có nhắc nhở nhiều lần, nhưng con người do vì “tham mà mờ trí, lợi mà mờ mắt”, không chịu hồi đầu, không chịu cảnh giác. Trong cuộc đời chúng ta gặp rất nhiều việc bất như ý, kỳ thực chúng ta nên bình tĩnh suy nghĩ, lúc trước đã có rất nhiều người nhắc nhở chúng ta, chỉ là chúng ta không để lời nói của họ vào trong tâm, nếu không thì những bất hạnh của đời người đâu có đến với ta. Cho nên, những bất hạnh trong đời con người, thứ nhất là do không nghe lời cha mẹ, thứ hai là không nghe lời người lớn. “Không nghe lời người xưa, thiệt thòi ngay trước mắt”. Không nghe lời Thánh Hiền, không nghe lời Kinh điển thì sẽ gặp tai nạn.

Chúng ta xem tiếp câu thứ 35 trong Luận Ngữ, vua Nghiêu có nói (câu nói này được thánh vương mỗi triều đại xem là khẩu hiệu): “Bản thân trẫm có tội, xin trời cao đừng làm liên lụy dân chúng các phương, dân chúng các phương có tội, đều do trẫm không làm gương tốt”.

Chữ “trẫm” này là cách xưng hô khiêm tốn của Thang Vương đối với chính ông, khiêm tốn xưng mình là “trẫm”. Câu nói này nằm trong phần “Nhị thập Nghiêu viết” của cuốn Luận Ngữ, là lời nói của Thang Vương, nhưng trên thực tế, vua Nghiêu, vua Thuấn đều kỳ vọng bản thân mình như vậy. “Trẫm cung hữu tội” có nghĩa là bản thân tôi có tội. “Vô dĩ vạn phương”; “vạn phương” là bá tánh nhân dân ở các nơi, chính là mong trời đừng làm liên lụy và giáng tội cho dân chúng khắp nơi. Nhưng “vạn phương hữu tội”, dân chúng mắc tội, “tội tại trẫm cung”, những tội lỗi này nên do tôi gánh lấy, bởi vì tôi đã không giáo hóa họ tốt. Chúng ta trước đây nhìn thấy phong thái của vua Nghiêu (trong phần “Thuyết Uyển” cũng có nói đến), khi thấy người đói khát, vua Nghiêu liền cho rằng: “là do ta gây nên, ta đã không chăm sóc tốt cho nhân dân”. Thấy người chết cóng, vua Nghiêu cũng phản tỉnh lại chính mình. Thấy người phạm tội thì vua Nghiêu nói: “Ta đã không dạy tốt anh ta”. Tinh thần của vua Nghiêu là “trước tha thứ, sau dạy dỗ”, khoan thứ, bao dung, tiến thêm một bước là giáo hóa nhân dân. Sau đó, lòng người trong thiên hạ đều rất nhân hậu, đều có thể bao dung người khác, đều có thể hết lòng giúp đỡ người khác. Cho nên, thời đại Nghiêu - Thuấn, lòng người đều tốt đẹp, nên Đại Vũ vào thời xưa đã cảm thán nói: “Người dân trong thời Nghiêu Thuấn đều lấy tấm lòng của Nghiêu Thuấn làm thái độ lập thân xử thế của họ”. Đại Vũ cảm thấy rằng, người dân được ông giáo hóa trong thời đó đều không thể có được thái độ như vậy, ông cảm thấy đức hạnh của chính mình không bằng Nghiêu Thuấn.

Đối với con cái, đối với học sinh trong trường, đối với nhân viên của mình, đối với những người có duyên ở bên cạnh, chúng ta phải làm theo tinh thần của vua Nghiêu: “Trước tha thứ, sau dạy dỗ”. Cho nên trong Kinh điển có một câu nói: “Tiên nhân bất thiện, bất thức đạo đức”. Cha mẹ của họ, tổ tiên của họ đều lơ là văn hóa truyền thống, họ đã không hiểu rõ đạo đức, bởi vì “vô hữu ngữ giả”, không có người bảo cho họ biết nên “thù vô quái dã”, không thể trách được. Câu nói này nếu chúng ta thâm nhập rồi thì sẽ không trách cứ bất kỳ người nào nữa, đều khoan thứ, bao dung. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là “sau phải dạy dỗ”. Sau khi khoan thứ với người rồi, thì quan trọng là phải dạy dỗ họ. Trong việc dạy dỗ này, điều quan trọng là phía bên trái của chữ “giáo”, trên làm thì dưới mới làm theo. Cho nên thân giáo, chữ “giáo” này không phải dùng miệng.

Chúng ta nhìn chữ “giáo”, chữ nguyên thủy của nó vốn không có bộ “khẩu”, đây là đứa trẻ, đứa trẻ nhìn người lớn, thầy giáo. Hai dấu chéo này thì bắt chước, trên làm thì dưới làm theo, là thân giáo. Tiếp theo là hình cái tay cầm nhánh cây, nghĩa là không quản khó nhọc mà thức tỉnh, cảnh tỉnh, đây là biểu thị tâm nhẫn nại. Giáo dục nhất định cần thân giáo và lòng nhẫn nại, giáo dục không thể gấp gáp mong thành tựu được, vì rốt cuộc sẽ biến thành việc “kéo mầm cho cây mau lớn”, kết quả trái với mong muốn.

Kỳ thực, chúng ta không có biện pháp dạy dỗ tốt người khác là vì đã không làm được triệt để hai thái độ này. Giả như chúng ta cảm thấy chúng ta đã có thân giáo rất tốt thì vấn đề nằm ở thời gian và sự nhẫn nại. Chúng ta nên luôn luôn phản tỉnh lại hai điều này, vẫn là làm chưa đủ, sẽ không thể trách người khác, vẫn phải từ trong thân giáo, đức hạnh cộng với sự nhẫn nại của bản thân mà dụng công. Trong chữ “giáo” sau này vẫn là từ chính bản thân, lấy thân làm gương mà bắt đầu. Câu nói này của Thang Vương, Thái Tông Hoàng đế khắc ghi trong lòng.

Trong sách Tư Trị Thông Giám có ghi lời nói của Thái Tông: “Quân nguyên dã, thần lưu dã, trược kỳ nguyên, nhi cầu kỳ, lưu chi thanh, bất khả đắc h. Người làm vua giống như đầu nguồn của con sông, “quân nguyên dã”. “Thần lưu dã”, thần tử như nhánh của con sông, nếu đầu nguồn đã bị ô nhiễm, mà muốn cho các nhánh sông trong sạch là việc không thể. Thái Tông có được tâm thái như vậy thật đáng quý.

Trong những năm đầu Trinh Quán, có người dâng thư gửi Thái Tông, hy vọng có thể trừ bỏ một số nịnh thần trong triều, những quan không tốt. Thái Tông nhận được nói rằng: “Người trẫm trọng dụng đều là hiền thần, khanh cảm thấy người nào không phải là hiền thần vậy?”. Rốt cuộc vị quan này nói: “Thần từ nhỏ lớn lên tại làng quê, mắt của thần không thể phán đoán ai không phải là hiền thần, nhưng có thể nhờ Bệ hạ cố ý nổi giận thử một ngày, sau đó nói một vài câu không đúng, thử xem có người nào dám không e sợ trận lôi đình của Ngài, không sợ Ngài nổi giận mà dám thẳng thắn khuyên can Ngài không. Người như vậy chính là hiền thần đích thực. Nếu như Ngài nổi giận, nói những lời không đúng, mà người đó tùy thuận theo lời Ngài, phụng mạng theo Ngài, thì kẻ đó chính là nịnh thần, Ngài sẽ phán đoán ra những kẻ này không tốt”.

Các vị học trưởng, thấy cách làm này tốt không? Chúng ta xem Thái Tông làm thế nào ứng phó với tình huống này. Thái Tông lúc đó nghe lời của Đại thần Phong Đức Di nói: “Dòng nước đục hay trong là do đầu nguồn của nó. Thiên tử chính là ngọn nguồn của việc trị nước trong sạch, thần tử và nhân dân giống như dòng nước vậy, nếu như vua của một nước mà chính mình trước tiên dùng thói gian trá, vậy chẳng phải là cố ý đóng kịch hay sao. Cố tình đóng kịch mà lại muốn có thần tử chính trực, bản thân mình không chính trực mà muốn thần dân chính trực, vậy thì khác nào đầu nguồn nước ô nhiễm mà lại hy vọng dòng nước được trong sạch, về mặt lý thì không thể có được. Thái Tông thật là chánh trực. Nếu như tôi không nhìn thấy câu phía sau, thì sẽ cảm thấy cách làm lúc đầu thật không tệ. Nên may quá, tôi không làm hoàng đế, nếu không thì nguy rồi. Nhưng bây giờ sau khi được học, cần phải học những việc đúng đắn này.

Thái Tông còn nhắc đến một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử là Ngụy Võ Đế, tức Tào Tháo. Thái Tông xem lịch sử về Tào Tháo thì cảm thấy ông ta mưu kế quá nhiều, Ngài không tán thành những cách làm của Tào Tháo, cảm thấy vua của một nước mà làm những việc như vậy thì sẽ rất khó giáo hóa nhân dân. Chúng ta thử suy nghĩ, chúng ta đã học được gì từ Tào Tháo? “Thà ta phụ người trong thiên hạ, cũng không để người trong thiên hạ phụ ta”. Điều này không thể học theo. Mọi người học tập cần phải có năng lực phán đoán, cần học theo Phạm Trọng Yêm: “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”. Chúng ta nhìn thấy, sao tâm thái lại khác biệt lớn như vậy? Cho nên, Thái Tông không tán thành những thứ quyền biến gian trá này. Đương nhiên Thái Tông là người rất thấu tình đạt lý, Ngài nói với người đưa thư là ta muốn sử đại tín hành ư thiên hạ”, dùng tâm thành tín để xây dựng chữ tín trong thiên hạ, không muốn dùng sự gian trá để giáo hóa nhân dân. Cho nên, “Khanh ngôn tuy thiện”, cách làm như khanh nói dù không tệ, nhưng “trẫm sở bất thủ dã”, nhưng trẫm không làm đâu. Ngài không phủ định ngay lập tức ý kiến của thần tử, còn khuyến khích bọn họ nêu ý kiến, nhưng cũng thông qua cơ hội này để dạy dỗ các thần tử nhất định không thể làm việc gian trá. Cho nên, toàn bộ sách Trung Dung nhấn mạnh một chữ là “thành”, “chí thành như thần”, chí thành cảm thông, chứ không được dùng các thói gian trá.

Trong Luận Ngữ còn có một câu nói: “Bất nghịch trá, bất ức bất tín, ức diệt tiên giác giả, thị hiền hồ”. Khổng Tử nói rằng, chữ “nghịch” này là ước đoán, phỏng đoán, trước hết đừng có đoán người khác có đang gạt mình hay không. “Bất ức bất tín”, chữ “ức” này chính là “suy đoán”, đừng có suy đoán người khác có giữ chữ tín với mình hay không. Có một vài người hay phỏng đoán, suy đoán người khác có gạt mình hay không, người khác có giữ chữ tín với mình không, kết quả sau cùng thì quả thật người đó đã đoán trúng, “ức diệt tiên giác giả”, quả thực đã được người đó tiên liệu trước. Nhưng Khổng Tử lại không khuyến khích và tán đồng thái độ này. Khổng Tử ngài nói: “Nếu quả thật đoán đúng thì có được xem là có tài đức, giỏi giang không?”. Bởi vì những suy đoán này sẽ có lúc tạo thành sự hiểu lầm người khác, vì vậy Khổng Tử không khuyến khích việc suy đoán người khác có bất tín hay lừa gạt không. Bởi vì phong khí như vậy ở trong một đoàn thể sẽ khiến cho tâm nghi ngờ của người càng ngày càng lớn. Tín nhiệm cho người thêm sức mạnh, hoài nghi sẽ khiến cho hai bên sanh hiểu lầm. Chúng ta cùng chung sống với mọi người, chúng ta nên nhớ câu “nhân chi sơ tính bổn thiện”, thì mỗi một người sẽ có được tín niệm càng ngày càng lớn. Tuy nhiên, nếu tôi quả thật đối tốt với người nhưng anh ta lại gạt tôi, hình như Kinh điển tôn giáo của phương Tây có câu: “Đóng lại một cánh cửa lớn là giúp người khác mở ra một cánh cửa sổ”, phải không? Nếu một bên bạn chịu thiệt, bạn hoàn toàn không tính toán, thì phước sau sẽ lớn vô cùng. Người Mân Nam chúng ta có câu: “Ông trời thương kẻ khờ”. Các bạn đối với người ta tốt như vậy mà bị người ta lừa, thì giống như “Liễu Phàm Tứ Huấn” nói: “Những người không có tội mà bị mang tiếng xấu”, bản thân không làm gì sai mà bị người khác mắng xối xả, thì bạn sẽ có phước báo, tội nghiệp của bạn đều tiêu trừ, phước báo liền đến, “con cháu phát đạt dài lâu”. Đây chính là chân lý. Mọi người có tin chân lý này không? Tin à? Tốt! Vậy từ đây trở đi mọi người bị người khác mắng thì phải vui mừng. Nếu mắng đúng thì nhớ phản tỉnh “nghe lỗi vui”. Mắng không đúng chính là đem phước báo đến cho bạn, đúng không? Do vậy các bạn xem, con người có gì mà không vui vẻ? Bởi vì không tin chân lý mà thôi. Người ta vì sao mỗi ngày được hoan hỷ? Là vì đã tin tưởng chân lý. Lời nói này của Khổng Tử đã nhắc nhở chúng ta về thái độ xử thế. Kỳ thực, khi chúng ta đang phán xét người khác thế này thế nọ, nhất định là phán xét sai. Đừng nói người khác, ngay cả chính mình còn không hiểu rõ mà suy đoán người khác, còn cho rằng “tôi nhìn người là chính xác đó”. Chính mình xem xét chính mình trong hai mươi bốn giờ còn không thấy rõ, thường bán đứng bản thân mà không hề hay biết. Khi nào chúng ta bán đứng bản thân vậy? Lúc ta tùy thuận tập khí chính là lúc ta gây thiệt hại cho chính mình, bán đứng mình rồi. Vì vậy phải chân thực, lấy việc khoan thứ chính mình mà khoan thứ người khác, lấy việc trách người để trách mình, thì sẽ ít phạm lỗi. Đem việc nơi nơi yêu cầu người khác về yêu cầu chính mình thì đức hạnh sẽ nâng cao.

Chúng ta xem tiếp câu số 36, phần “phản thân” trong quyển số 6, trang 819. Đoạn này là lời của Quản Tử. Đoạn này là triết học chính trị rất tinh túy, chúng ta xem từ đầu.

Quản Tử nói:

Kinh văn: “Thân bất thiện chi hoạn, vô hoạn nhân mạc kỷ tri”.

Nếu như người thường đau buồn về khuyết điểm và điều bất thiện của bản thân mà sửa đổi, đừng lo lắng việc người khác không hiểu mình, đừng lo lắng người khác không tin tưởng mình. Chúng ta trước đây hình như có đọc qua một đoạn văn: “Ngự hàn mạc như trọng cựu, chỉ báng mạc như tự tu”. Biện pháp tốt để ngăn ngừa sự hủy báng là gì? Là tự bản thân tu dưỡng thật tốt. Để ngăn ngừa giá lạnh thì biện pháp tốt nhất là gì? Mua một bộ quần áo thật dày mặc vào. Đây là nói ẩn dụ để ngăn ngừa hủy báng, không phải đi kêu người khác đừng nói nữa, mà cách tốt nhất là bản thân tu dưỡng đức hạnh cho tốt. “Dân chi quan dã sát hĩ, bất khả độn đào”. Con mắt của dân chúng rất tinh anh, họ quan sát rất rõ ràng, nên không che dấu được, trốn cũng không được. “Cố ngã hữu thiện, tắc lập dự ngã, ngã hữu quá, tắc lập hủy ngã”. Nếu ta có thiện hạnh, đức độ thì nhân dân thậm chí sẽ dùng ca từ để tán thán. Chúng ta xem trong Kinh Thi có rất nhiều lời tán thán những vị lãnh đạo có đức hạnh. Nếu ta có lỗi thì nhân dân sẽ nhanh chóng dùng ca từ để phản ánh, dùng lời bài hát để phê bình ta. Rất nhiều vị lãnh đạo muốn biết cách nhìn của nhân dân với mình thế nào thì đi vào chợ để nghe ngóng, để tìm hiểu xem người dân đang nói những gì, để hiểu được những hay dở trong việc trị nước. “Đương nhân chi hủy dự dã, tắc mạc quy vấn ư gia h. Cho dù là lời phê bình hay công nhận của dân chúng, ta nghe rồi đều hiểu rõ, không cần phải về nhà hỏi lại những người trong nhà mình. Kỳ thực, lời của dân chúng nói là đúng, người trong nhà cũng có khi thiên vị. Có câu rằng: “Nhân mạc tri kỳ tử chi ác, mạc tri kỳ miêu chi thạc”. Có khi người trong nhà thường vì ta mà nói lời không chính xác. Chúng ta vừa có chút để phản tỉnh thì người trong nhà chúng ta lập tức nói: “Việc này không tồi mà!”, làm cho sự phản tỉnh này không thể đi sâu hơn nữa. “Con như vậy là tốt lắm rồi, con xem mấy tên Giáp tên Ất kìa, con còn giỏi hơn chúng nhiều!. Cho nên, người trong gia đình không nên nói như vậy, người trong nhà nên nói là “so với Nghiêu Thuấn, so với Khổng Tử mà xem”. Đây mới là những người thân chân thật yêu thương chúng ta.

“Cố minh vương hữu quá, tắc phản chi ư thân”. Quân vương hiền minh khi phạm lỗi, cái lỗi này bao gồm lỗi của bản thân và lỗi của nhân dân, dù sao cũng tự mình phản tỉnh đã làm sai điều gì? “Hữu thiện tắc quy chi ư dân”, có thiện hạnh gì, có thành tựu tốt đẹp gì đều quy công lao cho thần dân bá tánh, nhường công cho người khác. “Hữu quá nhi phản chi, thân tắc thân cụ”, có sai lầm thì phản tỉnh chính mình, như vậy bản thân mới càng cẩn trọng dè dặt hơn mà sửa chữa lỗi lầm của mình. “Hữu thiện nhi quy chi dân tắc dân h, có công lao, thiện hạnh gì đều quy về cho nhân dân bá tánh, thì nhân dân sẽ cùng vui, cùng hoan hỷ. “Vãng h dân, lai cụ thân, thử minh vương chi sở dĩ trị dân dã”. Từ “vãng hỷ dân” này là đem công lao nhường cho lão bá tánh, thì nhân dân sẽ hoan hỷ, nhưng lỗi lầm thì phải phản tỉnh bản thân thì bản thân mới hết lòng cảnh giác, thận trọng dè dặt mà tu thân. Thái độ này chính là đạo lý trị nước của quân vương hiền minh dùng để trị vì bá tánh. Vì vậy, ở đây nhắc đến việc “có điều gì tốt thì quy công cho nhân dân, có điều gì sai thì phản tỉnh lại chính mình”.

Kỳ thực, chúng ta thân là lãnh đạo của một đơn vị cũng phải nên có thái độ này, đồng thời cũng phải làm từ trong tâm, bởi vì cảm thấy rất có trách nhiệm. Thuộc hạ có điều gì không đúng, chúng ta cần nên chịu trách nhiệm dạy dỗ họ. Cho nên một vị lãnh đạo cũng cần phải biết gánh vác trách nhiệm, khi mình gánh vác thì thuộc hạ sẽ có cảm giác an toàn, thuộc hạ sẽ cảm thấy xấu hổ và phản tỉnh lại chính họ: “Chúng ta đã làm không tốt, khiến cho lãnh đạo phải gánh trách nhiệm”. Đồng thời, lực hướng tâm này sẽ càng ngày càng mạnh. Cho nên, các vị Thánh Hiền, minh vương khi lập thân xử thế không chỉ có đức hạnh, mà còn phù hợp với đạo lý và lòng người.

Được rồi! Hôm nay chúng tôi cùng mọi người chia sẻ đến đây. Cám ơn mọi người!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 35 và 36)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 51


Hôm nayHôm nay : 3827

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 228578

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10886621

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?