Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 26)

Chủ nhật - 28/09/2014 13:42

Công đức chân thật là ở khởi tâm động niệm của bạn, ở ngôn ngữ tạo tác của bạn. Bạn dùng tâm thuần thiện, thuần là tâm yêu thương người, thuần là tâm hạnh giúp đỡ người khác phá mê khai ngộ, hoàn toàn thực hiện vào trong đời sống, trong công việc của mình thì đây là công đức chân thật. Bạn dùng công đức này hồi hướng mới có tác dụng. Đây là hiếu thuận cha mẹ đích thực, niệm niệm không quên. Nếu cha mẹ vãng sanh rồi, công đức này có thể giúp họ nâng cao phẩm vị. Nếu cha mẹ bạn bất hạnh, bị đọa ở đường ác, công đức này có thể giúp họ siêu sanh. Đây là siêu độ đích thực, không phải mời mấy vị hòa thượng, đạo sĩ tụng Kinh là có thể siêu độ được, đó là mê tín. Hoàn toàn ở trên tâm hạnh thực tế của mình.

Quí vị có lẽ đã đọc qua “Ảnh Trần Hồi Ức Lục” của Pháp sư Đàm Hư, cư sĩ Lưu - bạn của cụ Đàm, “tám năm gian khổ đọc Lăng Nghiêm”, ông siêu độ gia thân quyến thuộc của ông, siêu độ oan thân trái chủ của ông như thế nào? Không có bất kỳ hình thức nào, hoàn toàn dựa vào đức hạnh của mình, khởi tâm động niệm, hành vi đời sống như Phật đã dạy, học theo những gì mà Phật đã hành. Đây gọi là hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng, hữu hảo yêu quí anh em. Có thể tôn trọng tất cả chúng sanh, yêu thương tất cả chúng sanh vô điều kiện, vô tư, tận tâm tận lực giúp đỡ tất cả chúng sanh, giúp chúng sanh lìa khổ được vui, chỉ có một cái tâm như vậy, chỉ có một ý nghĩ như vậy. Ý nghĩ này, cái tâm này chính là thiên chí, trong Phật pháp gọi là nguyện của Phật. Quí vị thử nghĩ, chúng ta gần đây giảng “Kinh Vô Lượng Thọ”, đúng lúc giảng đến 48 nguyện, mỗi nguyện đều giúp đỡ chúng sanh lìa khổ được vui. “Lìa khổ được vui” là tổng nguyện. Lìa khổ được vui là quả. Có quả ắt có nhân. Muốn khiến tất cả chúng sanh lìa khổ được vui thì trước tiên dạy họ tu nhân. Nhân là gì vậy? Phá mê khai ngộ. Khổ là từ trong mê mà ra, vui là từ trong ngộ mà có. Phá mê chính là lìa khổ, khai ngộ thì liền được vui. Cho nên đại thánh nhân thế xuất thế gian, cả đời đều dấn thân vào công tác dạy học. Dạy học là trực tiếp giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, còn những ngành nghề khác đều là thuộc về gián tiếp, không những hướng dẫn, chỉ dạy mà còn phải làm nên tấm gương cho người ta thấy. Hy vọng mọi người nhìn thấy hình tướng của họ, nghe thấy ngôn từ chỉ dẫn của họ thì liền giác ngộ, liền sáng tỏ. Chúng ta phải noi theo thánh hiền, học tập theo Phật Bồ Tát thì mới có thể đạt được quả báo chân thật. Chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này, nhất là ở vào cuối thế kỷ này, tai nạn rất nhiều và tương đối nghiêm trọng.

Làm thế nào phòng tránh tai nạn? Làm thế nào tự độ độ người? Thảy đều ở hiểu rõ chân tướng vũ trụ nhân sinh, triệt để quay đầu, quay đầu là bờ thì vấn đề này liền có thể giải quyết rồi. Mọi lời tiên đoán của phương đông, phương tây đã nói có rất nhiều khả năng xảy ra tai nạn. Kết luận cuối cùng của họ rất hay, mục đích của tiên đoán không phải cảnh cáo bạn tai nạn sắp đến, mà là để bạn hiểu rõ có những khả năng sự việc này xảy ra, để chúng ta từ trên tâm lý làm một cuộc chuyển đổi, gấp rút quay đầu, đoạn ác tu thiện. Tai nạn rốt cuộc có hay không là quyết định ở trong khoảng một niệm của chính chúng ta, không phải quyết định ở bên ngoài, quyết định bởi chính mình. Cho nên chúng tôi ở trong buổi giảng thường nói, tâm tham chiêu đến là nạn nước; trong “Kinh Lăng Nghiêm” nói, sân hận là nạn lửa, ngu si là nạn gió, cống cao ngã mạn là động đất. Nếu như chúng ta dập tắt tham sân si từ trong nội tâm, đối với người, với vật chúng ta học khiêm tốn, nhẫn nhượng thì tai nạn này liền không còn nữa. Thiên nhân tứ thiền, tại sao không có ba nạn lớn nước, lửa, gió vậy? Họ hoàn toàn phục được tham sân si rồi. Cho nên họ rất có phước báo, nơi họ cư trú là đất phước. Chúng ta nghe Phật nói rồi thì phải nên giác ngộ, phải nên hiểu rõ, phải thật sự từ bên trong nội tậm dập tắt tham sân si mạn, dùng một lòng từ bi đối nhân xử thế tiếp vật.

Tôi khuyên mọi người học Phật Bồ Tát. Phật Bồ Tát dùng ánh mắt gì để nhìn người vậy? Các Ngài thấy tất cả chúng sanh đều là Phật Bồ Tát. Đó là sự thật. Chúng ta thấy tất cả chúng sanh đều là phàm phu, đều là người ác. Chúng ta thấy sai rồi, Phật Bồ Tát thấy chính xác. Người bình thường nghe thấy lời này của tôi, họ giữ ý kiến tương phản: “Phật Bồ Tát thấy sai rồi, chúng tôi thấy mới chính xác, rõ ràng người này là người tốt, người kia là người xấu”. Tại sao Phật Bồ Tát không phân tốt xấu? Trên thực tế, Phật Bồ Tát thấy chính xác, chúng ta thấy sai rồi. Đạo lý này rất sâu, phải suy nghĩ chín chắn, điều chỉnh quan niệm sai lầm, điều chỉnh hành vi sai lầm của chúng ta.

Chịu ơn người một giọt nước, vĩnh viễn phải ghi nhớ, vĩnh viễn không quên. Người ta có gì không phải với chúng ta, tuyệt đối không nên nhớ ở trong lòng, đem nó quên cho thật sạch sẽ, dứt khoát không để lại ấn tượng thì bạn mới có điều kiện học Phật, mới có tư cách làm Phật. Vong ơn bội nghĩa, thường hay nhớ kỹ người này không phải với ta, người kia có lỗi với ta thì chắc chắn đọa tam đồ, hằng ngày tụng kinh niệm Phật, vẫn phải đọa tam đồ. Đầu năm triều Thanh, Pháp sư Quán Đảnh cũng nói như vậy, Ngài nói không sai tí nào cả. Hy vọng chúng ta ghi nhớ, chúng ta nghiêm túc nỗ lực học tập, gấp rút quay đầu, phòng tránh tai nạn.

Trong hơn một ngàn chữ của “Cảm Ứng Thiên”, câu quan trọng nhất chính là “Trung hiếu hữu đễ”. Câu này có thể nói là hạt nhân của toàn bài, quan hệ lớn vô cùng, là đạo lý lớn của một người lập thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ ở trong xã hội. Người xuất gia tu hành, khai ngộ, chứng quả, làm Bồ Tát, làm Phật, mấu chốt cũng ở bốn chữ này. Cho nên thánh nhân thế xuất thế gian, tôi đã nói quá nhiều lần rồi, mục đích, nguyện vọng của bậc thánh hiền chỉ là hy vọng tất cả chúng sanh tương thân tương ái, chung sống hòa thuận. Nhưng mà tất cả chúng sanh, chủng loại quả báo không giống nhau. Những khác biệt này từ đâu mà có vậy? Là từ nhân hành hiện tại và quá khứ của họ không giống nhau. Cho nên từ trên quả chúng ta có thể nhìn thấy nhân, từ trên nhân có thể nhìn thấy quả, vậy thì chúng ta đã có trí tuệ rồi. Sự việc này nếu muốn đạt đến mục đích thật sự thì chính trị không thể làm được. Nếu chính trị có thể đạt được mục đích này thì Thích Ca Mâu Ni Phật với thân phận của một vương tử, Ngài có thể làm quốc vương. Ngài biết chính trị không thể đạt được. Vũ lực cũng không thể giải quyết nổi vấn đề này. Chúng ta thấy trong Kinh điển, Phật Thích Ca Mâu Ni lúc còn trẻ võ nghệ cao cường, Ngài có thể làm tướng quân, có thể làm thống soái, nhưng Ngài từ bỏ tất cả. Ngài biết sự việc này vũ lực không thể đạt được, kể cả kinh tế và khoa học kỹ thuật cũng đều không thể làm được. Phương pháp duy nhất có thể thu được hiệu quả tốt là chỉ có giáo dục, cho nên Thích Ca Mâu Ni Phật chọn công việc giáo dục xã hội này, cả đời toàn tâm toàn ý dấn thân vào công việc giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa. Phật Thích Ca Mâu Ni là một người như vậy, chúng ta cần nhận thức rõ ràng. Lý tưởng và ý chí vĩ đại của Ngài là muốn giúp tất cả chúng sanh lìa khổ được vui, tương thân tương ái, chung sống hòa mục.

Hôm nay tại hiện trường có rất nhiều thầy cô đều là những người dấn thân vào công tác giáo dục. Công việc này vô cùng vĩ đại, thế nhưng ngày nay trên thế giới, người nhận thức nó quá ít. Tôi nghe có một số đồng học nói, hiện nay thầy không dễ làm, học trò không dễ dạy. Vấn đề này tôi cũng đã từng thảo luận rồi, hiện nay sư đạo suy rồi, có thể nói đã không còn nữa. Hiếu đạo mất hết rồi, hiếu đạo không còn nữa thì sư đạo đương nhiên là không còn. Bởi vì sư đạo là xây dựng trên cơ sở của hiếu đạo. Người không biết hiếu thân thì làm sao biết tôn sư? Không thể nào!

Vào thời xưa, một người đệ tử tốt là cần cha mẹ hợp tác mật thiết với thầy, mới có thể đem mầm non này nuôi dưỡng lên được, khiến họ tương lai trở thành nhân tài trụ cột xã hội. Tôi còn nhớ, khi tôi khoảng bảy - tám tuổi, lần đầu tiên đi học, vào thời đó vẫn còn tư thục, không phải trường học. Tư thục bố trí ở trong một từ đường, một người thầy dạy khoảng hai mươi mấy học trò. Phụ thân tôi mang theo lễ vật cúng dường thầy, ở ngay đại sảnh đó của thầy. Đại sảnh đó chính là đại điện ở trong từ đường. Ngay giữa bàn thờ cúng dường, có bài vị của chí thánh tiên sư Khổng Lão Phu Tử. Phụ thân dắt theo tôi, phụ thân ở phía trước, tôi theo ở phía sau, trước tiên hướng về bài vị Khổng Lão Phu Tử hành lễ tôn kính nhất là ba lần quỳ, chín lần dập đầu. Sau khi hành lễ hoàn tất thì mời thầy ngồi vào ghế trên, phụ thân của tôi ở phía trước, tôi theo ở phía sau, cũng hướng về thầy hành lễ ba lần quỳ, chín lần dập đầu. Sau đó dâng lễ vật lên, đem con trẻ giao cho thầy. Gia trưởng đối với thầy tôn trọng như vậy, nếu thầy không thể dạy con trẻ tốt thì sao xứng đáng với gia trưởng? Nghi lễ này hiện nay không còn nữa. Khi tôi ở Đài Trung, thầy Lý đã từng mở một lớp học gọi là “Lớp nghiên cứu nội điển”. Trong lớp học này có tám học trò, chính thầy là người phụ trách lớp học này, thầy đã mời năm vị thầy, tôi cũng là một trong số đó. Ngày khai giảng đó, thầy Lý đại biểu cho gia trưởng của học trò đảnh lễ ba lạy với chúng tôi - những người làm thầy này. Gia trưởng này không biết, thầy Lý đại biểu cho gia trưởng hành lễ. Chúng tôi không dám tiếp nhận, thế nhưng không dám tiếp nhận cũng không được, thầy bảo chúng tôi ngồi rất nghiêm chỉnh ở đó, chúng tôi y giáo phụng hành, đành phải ngồi ở đó để thầy lạy ba lạy. Nhận kiểu đối xử theo nghi lễ long trọng này, nếu không thể nghiêm túc dạy học thì đó chính là tội lỗi. Hiện nay nghi  lễ không còn nữa. Hiện nay nghe nói thầy dạy dỗ học trò, gia trưởng còn muốn kiện thầy. Cho nên thế gian này có tai nạn cực lớn sắp hiện tiền. Đây là gì vậy? Đúng như nhà tôn giáo nói là ông trời trừng phạt, thượng đế trừng phạt. Chúng ta xem thấy ở trong “Lời Tiên Tri” nói người ta nhìn thấy tương lai trên thế gian này có rất nhiều người chết, bảy tháng chôn cất cũng không hết. Quả báo này từ đâu mà có vậy? Từ nhân bất thiện.

Trung Quốc thời cổ đại, việc lớn quan trọng nhất của quốc gia chính là dạy học. Chương “Học Ký” ở trong “Lễ Ký” là triết học giáo dục cổ xưa của Trung Quốc chúng ta, là phương châm chỉ đạo giáo dục cổ xưa, bên trong viết rất rõ ràng, rất minh bạch: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”. Xây dựng quốc gia, thống trị quốc gia, lãnh đạo nhân dân, điều gì là quan trọng nhất? Dạy học là quan trọng nhất. Một gia đình cũng là như thế. Ở trong gia đình dạy học cũng là quan trọng nhất. Con người nếu như không tiếp nhận giáo dục của thánh hiền, thực ra mà nói là có khác gì so với cầm thú? Còn tàn nhẫn, còn độc ác hơn cầm thú. Sư tử, hổ, báo mọi người nhìn thấy, sau khi ăn no rồi thì bình yên vô sự với động vật nhỏ, động vật nhỏ chạy qua chạy lại ở xung quanh chúng, chúng cũng chẳng thèm quan tâm. Con người thì không như vậy, không ăn cũng muốn giết chúng. Cho nên con người nhất định phải tiếp nhận giáo dục. Ở thời đại này hiện nay, người có thể tiếp nhận thì phải tận tâm tận lực hướng dẫn họ, còn người không thể tiếp nhận thì chúng ta phải bớt làm khó dễ.

Mục đích dạy học của nhà Nho là dạy người làm thánh, làm hiền. Mục đích dạy học của nhà Phật là dạy người làm Phật, làm Bồ Tát. Dạy học của nhà Phật, từ đầu đến cuối, nói thực ra chính là có ba việc. Việc thứ nhất là dạy người đoạn ác tu thiện, việc thứ hai là dạy người phá mê khai ngộ, việc thứ ba là dạy người chuyển phàm thành thánh. Sao gọi là thánh? Hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sinh, thông đạt sự lý của nhân duyên quả báo thì người này được gọi là thánh nhân. “Thánh” với “Phật” của Ấn Độ, ý nghĩa này hoàn toàn tương đồng. Phật là người giác ngộ, Thánh là người hiểu biết. Hiểu biết chính là giác ngộ, giác ngộ chính là hiểu biết. Sự lý của vũ trụ nhân sinh quá sâu, quá rộng, không cần phải học, không thể học được. Học, sở học cả đời bạn là hữu hạn. Phải làm thế nào mới có thể đạt được vậy? Phải khai ngộ. Cho nên dạy học của thế xuất thế gian đều chú trọng ở khai ngộ. Không chỉ là nhà Phật nói phải khai ngộ, nhà Nho dạy học cũng nói khai ngộ, vậy không ngộ thì làm sao được? Chúng ta ngày nay tại sao không thể khai ngộ vậy? Phiền não che đậy, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước khiến chúng ta không thể khai ngộ. Phật Bồ Tát dạy cho chúng ta buông xả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước liền khai ngộ ngay. Buông xả một phần thì có chỗ ngộ của một phần, buông xả hai phần thì có chỗ ngộ của hai phần, những thứ này là chướng ngại. Khai ngộ là trí tuệ, đức năng vốn có trong tự tánh chúng ta, không phải đến từ bên ngoài. Tại sao chúng ta cứ muốn chấp trước kiên cố vậy? Ở trong chấp trước điều quan trọng nhất là chấp ngã, vì có ngã thì liền có riêng tư, có ngã thì liền có dục vọng. Tâm riêng tư là mê hoặc, dục vọng là nguồn gốc của tội nghiệp, bạn tạo tội nghiệp rồi.

Phật dạy chúng ta, mỗi một đệ tử Phật học Phật đều phải gánh vác công tác giáo dục xã hội. Việc này rất trọng đại. Phật pháp muốn phổ độ chúng sanh, muốn cứu khổ cứu nạn. Cách cứu như thế nào vậy? Dạy học. Xuất gia là giống như đã chọn ngành nghề này trong xã hội. Chúng ta nhất định phải có tinh thần chuyên nghiệp, thúc đẩy giáo dục Phật Đà. Giáo dục Phật Đà là giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa, nó không phân chủng tộc, không phân khu vực, không phân tín ngưỡng tôn giáo, dạy học bình đẳng, còn cần phải tự mình lấy bản thân làm mẫu mực, vì quảng đại quần chúng xã hội làm nên một tấm gương tốt. Đặc biệt là ở trong “Kinh Hoa Nghiêm”, chúng ta xem thấy hư không pháp giới mỗi hình mỗi loại, muôn nghìn sai biệt, quần thể khác nhau, văn hóa khác nhau, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, Phật đều có thể hướng dẫn họ viên mãn, để mỗi người đều có thể phá mê khai ngộ, mỗi người đều có thể làm thánh làm hiền, hoàn toàn không có phá hoại quần thể của họ, hoàn toàn không chướng ngại tín ngưỡng tôn giáo của họ, cũng không hề làm tổn hại văn hóa của họ chút nào. Chỉ có giúp đỡ họ mở rộng mỹ hóa đời sống của họ, làm tốt hơn văn hóa của họ, cho nên họ thành công. Dựa vào cái gì? Tâm chân thành, nhà Phật gọi là tâm Bồ Đề, thật tâm đối người, chân thành tiếp vật. Lão tử chúng ta cũng nói, người khác dùng tâm thiện đối với ta, ta dùng tâm thiện đối với người; người khác dùng tâm bất thiện đối với ta, ta vẫn dùng tâm thiện đối với người; người khác tin ta, ta tin người; người khác không tin ta, ta vẫn tin họ. Cho nên thánh hiền nhân dạy bảo chúng ta, chúng ta phải có thành ý, có thiện ý, thuần là tâm yêu người yêu vật, bố thí vô tư vô điều kiện, cung kính cúng dường đối với tất cả chúng sanh. Các vị ở trên Phật kinh tỉ mỉ mà quán sát, Phật có phải làm như vậy không? Đây là hành nghi của Phật, nguyên tắc đối nhân xử thế tiếp vật của Phật. Chúng ta phải ở chỗ này mà học tập. Bốn chúng đồng tu chúng ta, không chỉ là người xuất gia, đồng tu tại gia cũng phải làm, chăm chỉ nỗ lực mà làm thì mới có thể cứu vãn xã hội này, phải chính mình làm gương.

Hiện tại ở Trung Quốc, tôi xây dựng mười trường trung học. Mười trường trung học này tôi đều gọi là "Trung Học Từ Quang". Các vị từ Đài Loan đến thì biết, tôi đã ở Thư Viện Từ Quang mười năm, cho nên ở Trung Quốc đại lục tôi xây mười trường Trung Học Từ Quang để kỷ niêm lão sư Lý. Học trò báo ân lão sư. Đồng Nhân Quế Châu là nơi lúc nhỏ tôi đi học. Lúc tôi đi học, quốc gia xây dựng Trung Học Đệ Tam, hiệu trưởng là tiên sinh Châu Bang Đạo, biệt hiệu của ông là Khánh Quang. Tôi ở Đồng Nhân xây một trường "Trung Học Khánh Quang" để kỷ niệm hiệu trưởng của tôi. Vì sao tôi phải làm như vậy? Học trò ngày nay vong ân phụ nghĩa đối với lão sư, chúng ta làm thế nào dạy tôn sư trọng đạo, mỗi niệm không quên ân thầy? Chúng ta làm ra hình tượng cho mọi người xem. Tôi tiếp nhận giáo huấn của tiên sinh Phương Đông Mỹ. Ở Đồng Thành, An Huy - quê hương của thầy chỉ có một trường trung học, tôi vì ông xây dựng một "phòng dạy vi tính Đông Mỹ", tặng cho trường học đó 100 máy vi tính, xây một phòng vi tính để kỷ niệm lão sư Phương Đông Mỹ. Ở Đại Học Sơn Đông của Tế Nam Sơn Đông, tôi xây dựng cho họ một phòng dạy vi tính "Lý Bỉnh Nam", ngoài ra còn xây dựng cho họ một phòng nghe nhìn mở rộng đối với dân chúng để kỷ niệm lão sư Lý. Thầy giáo dạy tôi học, hiện tại vẫn còn một vị còn ở nhân gian. Mỗi năm ngày tết ngày lễ tôi đều thăm viếng, cũng đều có cúng dường. Đây là thầy chủ nhiệm của tôi, lúc tôi đi học ở Nam Kinh. Lần này tôi cũng nghĩ xây một phòng vi tính, lấy tên của thầy tôi là Từ Thế Trạch, tặng 100 bộ vi tính cho "phòng vi tính Thế Trạch" này. Hiện tại người thế gian đã quên mất đi việc “tôn sư trọng đạo”, cho nên thế gian này sẽ có tai nạn lớn. Bất hiếu cha mẹ, bất kính sư trưởng thì xã hội hiện tại này thành ra cái gì? Chúng ta xem thấy hiện tượng rất là đau lòng. Chúng ta toàn tâm toàn lực nghĩ đến thì thảy đều phải làm được.

Ở Trung Quốc đại lục muốn xây trường học thì phải nhờ chính phủ giúp đỡ. Lần trước đại sứ Trần đến thăm tôi, tôi thỉnh cầu ông giúp đỡ tôi mau chóng thực hiện những nguyện vọng này. Hiện tại hai phòng vi tính này, ngay trong một - hai tháng này sẽ thực hiện. Chúng ta dạy những gì? Dạy trung, dạy hiếu. Thích Ca Mâu Ni Phật nói pháp 49 năm, thậm chí mười phương ba đời, tất cả chư Phật vì chúng sanh giảng kinh nói pháp cũng chẳng qua là hai chữ "trung hiếu" mà thôi. Hai chữ này, thực tế mà nói, người biết được càng ngày càng ít, người có thể làm được thì càng ít hơn, cho nên chúng ta phải nỗ lực đi giảng dạy, phải giảng giải sâu vào, vẫn phải nên làm ra cho người khác xem.

Hai chữ "hữu đễ" này bao gồm ở trong hiếu đạo, ở ngay chỗ này tại vì sao đặc biệt muốn nêu ra? Dạy chúng ta phương pháp hành hiếu. Hiếu phải làm từ "ái", "kính". Hữu đễ là đối với người.

Chữ "hiếu" này, ở Trung Quốc nguyên tắc chế tạo ra văn tự mà nói thì nó thuộc về hội ý, vào thời xưa chúng ta gọi là "lục thư" (sáu nguyên tắc). Phù hiệu này là bảo chúng ta nhìn vào, thể hội ý nghĩa của nó. Bên trên là chữ "lão", bên dưới là chữ "tử", hợp lại với nhau gọi là “hiếu”. Ý này rất rõ ràng, nhắc nhở chúng ta là đời trước và đời sau là một thể. Đời trước còn đời trước nữa, đời sau vẫn còn đời sau nữa, đúng như nhà Phật đã nói "rộng khắp mười phương, ngang cùng bờ mé" là cùng một thể sinh mạng, cùng một chỉnh thể. Đây là phù hiệu ý nghĩa tượng trưng, chính là trên "Kinh Bát Nhã" đã nói "thật tướng các pháp".

Chúng ta bình thường trong lúc giảng giải đã nói, hư không pháp giới, pháp tánh của tất cả chúng sanh, trong triết học nói đó là "bản thể của vũ trụ nhân sanh". Từ trong sự nhận biết này, mới chân thật sanh ra tâm yêu thương, tâm cung kính. Vừa rồi tôi nói tâm chân thành, tâm chí thiện, tâm bác ái, tâm nguyện vô tư vô điều kiện giúp đỡ tất cả chúng sanh, đều là từ trong hiếu tâm mà sanh ra. Bạn không nhận biết, không hiểu, cho nên Phật khuyên bạn phát tâm Bồ Đề. Tâm Bồ Đề của bạn vĩnh viễn không thể phát ra, nguyên nhân này do đâu? Bạn không biết được hư không pháp giới tất cả chúng sanh là chính mình, bạn không hiểu rõ đạo lý này, không hiểu rõ chân tướng sự thật thì tâm của bạn làm sao phát? Chân thật hiểu rõ rồi, biết được rồi thì tâm Bồ Đề tự nhiên liền phát ra. Tâm Bồ Đề phát ra chính là thâm tâm, là đại bi tâm. Thâm tâm là hiếu đức hiếu thiện, Vương Dương Minh gọi là "lương tri lương năng". Đại bi tâm là tâm lợi ích tất cả chúng sanh không có điều kiện, không mong cầu bất cứ đền đáp nào. Cho nên, Phật từ công việc giáo dục nghĩa vụ này, Ngài không tiếp nhận đền đáp. Có đền đáp thì người ta hoài nghi. Không mong cầu đền đáp thì người ta mới tôn kính, bạn dạy tôi là thật, không có điều kiện.

Nếu chúng ta muốn Phật pháp hưng vượng, chân thật có thể cứu vãn thế gian này thì chúng ta phải nỗ lực học tập. Nếu chúng ta không nỗ lực học tập với Phật Bồ Tát thì không làm được điều này. Cho nên, việc thứ nhất là phải đem ý niệm tự tư tự lợi nhổ đi tận gốc. Ngày xưa, lưu lại một chút, bạn còn có thể có chút thành tựu, nhưng thời đại hiện tại này, lưu lại một chút thì không thể. Thời đại không như nhau, cũng chính là nói, chúng ta đối diện với hoàn cảnh đã ác hóa đến cùng tột, như trên kinh Phật nói "ngũ trược ác thế", nếu không dùng tâm cực thanh tịnh thì không cách gì giúp đỡ những chúng sanh này. Chúng ta đối diện với những việc này, nhà Phật nói đối diện với những chúng sanh nên độ, so với thời đại ngày trước là phải khó khăn hơn quá nhiều quá nhiều. Cho nên chúng ta ngày nay ở nơi phẩm đức, học vấn, trí tuệ, phương tiện khéo léo, nếu như không thể siêu vượt hơn người xưa mười lần trở lên thì không làm được.

Chúng ta có thể siêu vượt người xưa hay không là hoàn toàn ở một niệm của chính mình. Chính mình chịu hy sinh thì có thể siêu vượt. Hy sinh cái gì? Hy sinh vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; danh vọng lợi dưỡng, năm dục sáu trần phải xả được sạch trơn. Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa tại Vườn Lộc Uyển, xuất gia cho năm học trò. Chúng ta ngày nay cũng không cầu nhiều, có thể có năm - sáu người chí đồng đạo hợp thì có thể làm cho Phật giáo hưng vượng lên. Chúng ta phải làm thế nào? Học Thích Ca Mâu Ni Phật trải qua đời sống ở mức thấp nhất, với người không tranh, với đời không cầu, trải qua đời sống nguyên thủy, du hóa thế gian thì liền có thể nhận được hiệu quả. Cho nên chúng ta sanh đến thế gian này không phải vì chính mình, mà vì chúng sanh khổ nạn; chết cũng vì chúng sanh khổ nạn, không có vì chính mình. Nếu có một chút ý niệm vì chính mình mà lo nghĩ thì bạn là phàm phu, bạn không phải thánh nhân, bạn không phải thật đệ tử Phật. Trên "Kinh Kim Cang" nói rất hay: "Nhược Bồ Tát, hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ Tát", cho nên phải xa lìa bốn tướng, khiến cho tâm của chính mình chân thật đạt đến chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, phải chân thật làm đến được một trăm phần trăm. Biểu hiện bên ngoài là biểu diễn, chân thật là nhìn thấu, buông xả, tự tại, tùy duyên, lão thật niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Đây thật là đệ tử Phật, đây là giáo huấn chân thật, đối với chính mình, đối với chúng sanh, đối với xã hội, chắc chắn được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần bảo hộ. Cho nên các đồng tu phải nỗ lực khắc phục phiền não tập khí của chính mình, ở trên giảng đài ngồi xếp bằng hai giờ đồng hồ mà không làm được, vậy thì sao được? Phải liều mạng mà làm cho được. Khi tâm thanh tịnh, tâm định rồi thì không khó. Khó là vì vọng tưởng nhiều, vẫn là dục vọng nhiều. Đây là đại chướng ngại, không chỉ chướng ngại tu hành mà còn đưa chúng ta đến ba đường ác, đưa đến địa ngục. Cho nên ái dục, thị hiếu không thể không xả bỏ, phải xả cho được sạch sẽ. Đời sống phải tùy duyên, quyết không được phan duyên.

Sau khi các vị ở nơi đây học thành rồi thì du hóa thế gian, tốt nhất là hồi phục khất thực. Buổi tối ở dưới gốc cây lớn, ở trong cái lều nhỏ thì tốt. Hiện tại lều bạt rất tốt, rất tiện lợi. Trí tuệ khai rồi thì không cần sách vở, vì chúng sanh giảng kinh nói pháp cũng không cần phải dự bị, đều bỏ đi sạch sẽ rồi. Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa không có quyển sách nào, Khổng Lão Phu Tử cũng không có quyển sách nào. Cần những thứ này để làm gì? Hiện tại bạn cố gắng làm, nhất định phải khai ngộ. Sau khi đại triệt đại ngộ, trí tuệ trong tự tánh chính là Phật pháp viên mãn. Hy vọng các đồng tu phải chăm chỉ, phải nỗ lực. Thời gian rất là bảo quý, một giây một phút đều không nên để luống qua.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 26)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Ban biên tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 61


Hôm nayHôm nay : 6557

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 204361

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9982128

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?